Cha Augustinô Nguyễn Viết Chung, một bác sĩ phật giáo trở thành linh mục công giáo

by Administrator

Linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung, CM (1955- 2017), thuộc Tu hội Truyền giáo Thánh Vinh Sơn, nguyên là một bác sĩ Phật giáo, chuyên môn về Da Liễu. Khi lên 18 tuổi, nhân đọc một bài báo nói về cái chết của Đức Cha Jean Cassaigne (+1973) tại trại phong Di-Linh, cậu Chung cảm thấy cuộc sống đó quá tốt đẹp và vô tình Đức Cha Jean Cassaigne đã trở thành thần tượng của cậu. Khi nhắc lại đoạn đời đó, cha Chung cho biết là ngài được rao giảng Tin Mừng bằng đời sống, chứ không phải bằng lời nói. Từ đó cậu Chung có ý nguyện học làm bác sĩ để phục vụ bệnh nhân phong như Đức Cha Jean Cassaigne.

Năm 1974. Chung học Y Khoa Đại Học Sài gòn. Tại đây anh gặp người công giáo đầu tiên trong đời anh, bác sĩ Lichtenberger người Bỉ, dạy môn Mô phôi học. Chung ngưỡng mộ sự uyên bác khoa học vô song của ông. Các bài giảng vô cùng sinh động và phong phú của nhà khoa học uyên thâm một cách lạ lùng làm cho Chung mê mẫn. Chung kinh ngạc khám phá vị giáo sư khả kính này là một Linh Mục dòng tên. Anh thường cùng các bạn trường Y đến nhà thờ để xem Giáo sư Lichtenberger dâng lễ.


Những năm học Y khoa không phải là dễ dàng đối với Nguyễn Viết Chung anh phải làm thêm nhiều việc nặng nhọc kể cả đạp xích lô để kiếm tiền ăn học và phụ giúp gia đình. Năm 1980, sinh viên Nguyễn Viết Chung ra trường.


Năm 1984, bác sĩ Chung khi đó 29 tuổi, xin được bổ nhiệm lên trại phong Di Linh để thực hiện giấc mơ lớn nhất của đời anh. Nhưng theo đúng thủ tục hành chánh thì anh phải trình diện và chịu sự điều động của Sở Y tế Lâm Đồng. Bà trưởng phòng ngạc nhiên hỏi:

– Anh có điên không hay là anh bị cùi?

– Nếu tôi cùi thì bà đã thấy rồi. Còn có điên hay không thì tôi không biết, nhưng điều tôi biết là tôi mong muốn phục vụ những người cùi.


Từ ngày 01-7-1986 anh về làm việc tại phòng chống sốt rét của tỉnh Đồng Nai cho tới năm 1989. Từ năm 1990-1992 đổi về làm tại phòng xét nghiệm của bịnh viện da liễu Sài gòn. Ở đây anh xin học thêm chuyên khoa da liễu, vì anh không bao giờ anh quên mộng ước của mình.


Năm 1993 Bác sĩ Chung tình nguyện lên công tác tại trại Phong Bến Sắn, Bình Dương. Tại đây, anh làm việc hăng say như để đạt được tâm nguyện của mình giống như Đức Giám Mục Cassaigne trong việc phục vụ bịnh phong cùi. Anh hết sức tận tụy không nề hà. Nhưng dù như thế anh vẫn thấy mình thua xa các nữ tu Bác ái trong việc yêu thương phục vụ người bịnh. Các nữ tu luôn nhẫn nại lắng nghe phục vụ người bịnh hết lòng, không bao giờ làm họ buồn tủi. Tinh thần hy sinh, quảng đại đó khiến cho anh cảm phục. Anh cho rằng muốn có được tinh thần yêu thương người nghèo khổ như thế, anh phải trở thành một người giống như các nữ tu. Anh chưa phải là người công giáo, nên anh không thể hiểu được tinh thần làm việc của các Sơ. Anh cũng muốn được phục vụ với tinh thần giống như các Sơ.


Ngày 28-8-1993 bác sĩ Chung đến gặp Cha Hoàng văn Đoàn, dòng tên, tại Bình Dương xin học giáo lý tân tòng. Ngày 15 tháng 5 năm 1994 bác sĩ Chung được Cha Chính xứ Bến Sắn làm Lễ Rửa Tội cho anh tại nhà nguyện trại phong Bến Sắn. Nhưng bác sĩ Chung không hài lòng khi chưa được trở nên giống các Sơ để có thể yêu thương phục vụ người nghèo. Ở tuổi tứ tuần theo đuổi ơn gọi tu sĩ là một điều quá khó khăn.

Bác sĩ Chung thăm và khám bệnh nhân phong tại nhà của họ. Trước khi trở thành linh mục ông đã là bác sĩ chuyên khoa da liễu.

Ngày 15.9.1994 bác sĩ Chung trở thành tập sinh lớn tuổi nhất của dòng Vinh Sơn nam số 40 đường Trần Phú, Đà Lạt. Ngày 25.3.2003 Giáo hội trao tác vụ Linh mục cho thầy Augustinô Nguyễn Viết Chung tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài gòn.


Ngày 3.4.2003, Linh Mục Nguyễn Viết Chung quay về trại phong Bến sắn dâng Thánh lễ tạ ơn trong sự hân hoan của các bịnh nhân phong với sự hiện diện của cha sở Bến sắn, người mà 9 năm trước đây đã làm lễ rửa tội cho cha. Vẫn thái độ khiêm nhường, yêu thương và cung kính với các người bịnh vẫn xưng mình là “con” khi nói chuyện với các bịnh nhân lớn tuổi.

Sau ngày chịu chức, cha giúp Mái ấm Mai Hòa chăm sóc người bị nhiễm HIV (huyện Củ Chi, TPHCM) và dạy học tại một số cộng đoàn của Tu hội.

Em bé này đã được Linh mục Chung giúp nuôi ăn từ lúc 4 tháng và đến tháng 12/2013 bé đã 13 tháng tuổi. Tật sứt môi của bé đã được vá nhưng tật ‘hở hàm ếch’ thì chưa vá được vì bé chưa đủ 10 kg

Năm 2009, vâng lời Bề trên, cha bắt đầu gắn bó cùng bà con dân tộc thiểu số trên dải đất Kontum. Môi trường sống mới, đối tượng tiếp xúc mới, song cha mau chóng thích nghi và hòa nhập. Qua tìm hiểu, người mục tử cầm chắc những thiệt thòi, khổ cực mà bà con Thượng gánh chịu. Đi tìm lời giải cho câu hỏi tại sao họ rơi vào cảnh ngộ đó, cha nhận ra các rào cản chính là bệnh tật, thất học, không có đất canh tác. Thế là, cha hỗ trợ anh em mua miếng rẫy đặng có chỗ cắm cây mì, trồng cây bắp sinh sống. Đi đôi với trồng trọt, cha gởi các gia đình khó khăn trong thôn cặp bò giống và cùng họ chăn nuôi để chờ ngày có bê. Thấy túp nhà ai xuống cấp đáng thương, cha ngược xuôi giúp một tay để họ có được chốn tựa lưng đàng hoàng, tử tế. Cái khổ nữa là người Thượng ít có nhà vệ sinh, hầu hết đều “giải quyết” tự do nên cha ra sức giúp bà con “cải thiện thực trạng” vì điều này ảnh hưởng đáng kể tới sức khỏe, môi trường. Khi mảng dân sinh tạm ổn, cha lo đến y tế. Hễ làng nào có người phong cùi, bóng dáng “áo chùng thâm” lại xuất hiện ngay bên: đưa họ ra cơ sở chữa trị, lo phí ăn uống, vận chuyển, ủi an… Sau hết, cha dồn mọi trăn trở vào khoản giáo dục.

Có thể nói, những tên làng như Konscôi, Konken, Konselat (xã Đăk Ruồng, huyện Kon Rẫy) từ lâu thân thuộc với cha như hình với bóng. Làng gần nhất cách nơi cha ở 7 km. Đường đi mù bụi, lởm chởm mấp mô, quệt vội giọt mồ hôi rồi nổ máy, cha cứ thế dấn bước hết năm này tháng nọ. Nhưng đâu chỉ có vậy. Ở những thôn xa xôi tận huyện Đăk Hà, Đăk Tô hay Ngọc Hồi cũng in rõ dấu chân vị linh mục vùng cao. Hôm nào khỏe, cha tranh thủ sáng đi chiều về, lúc mệt thì ngủ qua đêm do đường xấu lại xa. “Thế mới thấy hết ý nghĩa đời tu. Nghĩ tới hình ảnh mấy đứa bé chết vì suy dinh dưỡng, ngộ độc khoai mì, lòng lại ray rứt không yên nên làm được gì giúp họ cứ làm, kẻo muộn”, cha chia sẻ.

Cha Chung cho bò để người dân làm vốn

Tháng 3 năm 2009 tôi có về Sài gòn có dẫn người cháu đến thăm Linh mục Nguyễn Viết Chung, cha dong dỏng cao, hơi ốm, nói năng nhỏ nhẹ: “ “con” cũng chỉ là cái máng để hứng lấy tình yêu thương của mọi người để mang đến cho những người kém may mắn”.

Nhà văn Hương Vĩnh có viết: “Ba vị đã tác động mạnh mẽ trên cha Chung là Giám mục Jean Cassaigne, Linh mục Lichetenberger và Dì hai Loan ( phục vụ trại phong Bến Sắn 17 năm, chết vì bịnh ung thư ở tại trại này). Cả ba cùng có mẫu số chung – như lời cha Chung – đó là họ đã rao giảng Tin Mừng cho cha bằng cuộc sống chứ không phải bằng lời nói.

Lễ giỗ 100 ngày cha cố Augustinô Nguyễn Viết Chung

Trong bài “Nguyễn Viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ” cố Giáo sư Trần Duy Nhiên đã viết trong đoạn kết của bài này như sau:
“Thiên Chúa đã đến trong cuộc đời Nguyễn Viết Chung bằng những bước đi nhè nhẹ. Nhưng mỗi lần Ngài đến là Ngài để lại dấu ấn sâu sắc trong một tâm hồn biết lắng nghe. Giữa bao nhiêu thần tượng trên thế gian. Nguyễn Viết Chung biết chắc lọc một vài khuôn mẫu định hướng cho cuộc đời mình: Đức Cha Cassaigne, Cha Lichtenberger, Dì Hai Loan.. đấy là chưa kể đến nhiều người khác trong đó có thân mẫu của mình một người mẹ đã suốt đời âm thầm chịu đựng cho đến khi mù lòa. Giữa các gương mặt ấy có một nhân vật gần giống như Nguyễn Viết Chung: Linh Mục Bác sĩ Marcel Lichtenberger. Thế nhưng con đường Chúa dẫn hai vị đi thì hoàn toàn trái ngược nhau. Năm 25 tuổi Cha Lichtenberger vì tình yêu Thiên Chúa thúc bách phải đến với những con người bất hạnh tại Trung Hoa. Và trước những thương tích của Chúa Kitô thể hiện trên hình hài các bịnh nhân, cha đã trở về ngồi lại trên ghế nhà trường để rồi trở thành bác sĩ năm 48 tuổi. Ngược lại, bác sĩ Nguyễn Viêt Chung tốt nghiệp bác sĩ năm 25 tuổi, thế rồi muốn chia sẻ trọn vẹn sự khốn cùng của bịnh nhân nên rốt cục đã gặp Chúa Kitô chiụ đóng đinh trong những con người bất hạnh. Và điều này khiến cho vị bác sĩ tận tâm kia từ bỏ mọi sự để trở thành Linh Mục của Chúa vào tuổi 48.”

Tổng hợp từ Phùng Văn Phụng – Hương Vĩnh

You may also like