Dòng Chúa Thánh Thần Việt Nam
  • TRANG CHỦ
  • VỀ HỘI DÒNG
    • Lịch Sử
    • Linh Đạo
    • Sứ Vụ
    • Đấng Sáng Lập
      • Cha Poullart des Places
      • Cha Francis Libermann
    • Các Thánh – Chân Phước
    • Tư Liệu
      • Chapter Vietnam and India Group 2022
      • Thông tin tổng hợp
  • ƠN GỌI
    • Thông Tin Tuyển Sinh
    • Tìm hiểu ơn gọi
    • Giai Đoạn Đào Tạo
    • Câu Chuyện Ơn Gọi
  • Spiritans News
  • TIN TỨC & HOẠT ĐỘNG
    • Hội Dòng
    • Giáo Hội VIỆT NAM
    • GIÁO HỘI HOÀN VŨ
  • SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
    • Suy Niệm Lời Chúa
    • Suy Tư & Tản Mạn
    • Cầu Nguyện
      • Chúa Ba Ngôi
      • Chúa Giêsu Ki-tô
      • Chúa Thánh Thần
      • Mẹ Maria
      • Kinh Nguyện
  • LIÊN HỆ
Tin Hội Dòng

Thánh lễ Truyền Chức Linh mục và Phó tế 2025

by Administrator 30 Tháng 12, 2025
written by Administrator 2 minutes read

Trong niềm vui hân hoan và tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, Chủng viện Thần học Spiritan tại Manila, hiệp thông với Dòng Chúa Thánh Thần – Miền dòng Việt Nam – Ấn Độ hân hoan thông báo Thánh lễ Truyền Chức Linh mục và Phó tế đã được cử hành trong bầu không khí rất long trọng và sốt sắng.

Thánh lễ đã diễn ra vào lúc 10g30 sáng, thứ Hai, ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Giáo xứ Đức Mẹ Hiện Xuống,thành phố Quezon, Philipipin.

Chủ tế Thánh lễ là Đức Cha Elias L. Layuban, Jr., CMF, DD, Giám mục Giáo phận Cubao. Với lời giảng sâu sắc và cử hành sốt sắng, Đức Cha đã mời gọi các tiến chức luôn gắn bó mật thiết với Chúa Kitô, trở nên những mục tử khiêm nhường, trung thành và đầy lòng thương xót trong sứ vụ phục vụ Dân Chúa.

Trong Thánh lễ, ba tiến chức đã được truyền chức Linh mục:

* Gia đình Cha Giuse Nguyễn Văn Huân, CSSp

 

* Gia đình Cha Phêrô Trần Văn Long, CSSp

 

* Gia đình Cha Giuse Nguyễn Minh Lộc, CSSp

Đồng thời, năm tiến chức đã được truyền chức Phó tế:

Thầy Anrê Hoàng Văn Minh, CSSp

* Thầy Phêrô Nguyễn Việt Tương, CSSp

* Thầy Phêrô Nguyễn Văn Hương, CSSp

* Thầy Phaolô Trần Đình Sáng, CSSp

Thầy Giuse Nguyễn Phúc Tâm, CSSp

 

Đây là một hồng ân lớn lao không chỉ đối với các tân chức và gia đình, mà còn là niềm vui chung của Dòng Chúa Thánh Thần và toàn thể Hội Thánh. Qua việc lãnh nhận thánh chức, các tân Linh mục và các tân Phó tế đã quảng đại đáp lại tiếng Chúa mời gọi, sẵn sàng hiến dâng trọn đời cho sứ mạng loan báo Tin Mừng, đặc biệt giữa những người nghèo và bị bỏ quên.

Nguyện xin Chúa Thánh Thần luôn tuôn đổ ân sủng trên các tân tiến chức, để ngài luôn trung thành với ơn gọi đã lãnh nhận, sống đời thánh hiến trong khiêm nhường, nhiệt thành và yêu thương. Xin Mẹ Maria cùng Thánh Giuse và các thánh, luôn đồng hành và nâng đỡ các tân tiến chức trên hành trình sứ vụ phía trước.

30 Tháng 12, 2025 0 bình luận
0 FacebookTwitterPinterestEmail
Đấng Sáng Lập

Đấng Đáng Kính Cha Francis Libermann

by Trần Long 2 Tháng 12, 2025
written by Trần Long 5 minutes read

Đấng Đáng Kính Cha Francis Libermann

14 tháng 4, 1802 – 2 tháng 2, 1852

Đấng Đáng Kính Cha Francis Libermann đã có một hành trình đức tin đáng kinh ngạc. Hành trình này lên đến đỉnh điểm vào năm 1848 khi Cha Libermann mang đến nhân sự mới và một nguồn năng lượng tâm linh được đổi mới cho Dòng Spiritans, làm thay đổi Hội Dòng. Cha Libermann được coi là “người sáng lập thứ hai” của chúng tôi.

Ngài sinh ra trong một gia đình Do Thái Chính thống ở vùng Alsace của Pháp vào năm 1802, và được đặt tên là Jacob. Cha của Jacob Libermann là một giáo sĩ Do Thái (rabbi), và Jacob cũng đang chuẩn bị trở thành một rabbi nhưng những nghiên cứu của ông đã dẫn ông đến khám phá Tân Ước và Kitô giáo. Ngài được rửa tội với tên Francis Mary Paul vào Lễ Giáng sinh năm 1826. Ngay sau đó, ngài cảm thấy tiếng gọi trở thành linh mục và bắt đầu học tập nghiêm túc. Tuy nhiên, bệnh tật đã can thiệp dưới hình thức các cơn động kinh dữ dội. Điều này khiến ơn gọi của ông bị trì hoãn. Mười lăm năm sau, ngài mới được thụ phong linh mục vào năm 1841.

Những năm trì hoãn đó, mặc dù đầy khó khăn, cũng là thời gian của ân sủng và sự trưởng thành, khi Libermann trở thành cố vấn và người tâm phúc cho nhiều chủng sinh và những người khác muốn phát triển đời sống tâm linh. Những thử thách và kinh nghiệm đau đớn của chính ngài, cũng như những niềm vui và những phúc lành cảm nhận được, đã phát triển trong ngài một niềm tin lớn vào sự Quan phòng của Thiên Chúa và cảm nhận về Chúa Thánh Thần đang điều hành công việc của con người.

Cách tiếp cận “Practical Union – hợp nhất thực tiễn với Thiên Chúa” của ngài đã giúp ngài và những người khác tìm thấy sự thánh thiêng trong cuộc sống hàng ngày và đối diện với cuộc sống bằng sự tự tin và đức tin.

Linh đạo của ngài về sự đáp ứng với Chúa Thánh Thần đã phục vụ Cha Libermann rất tốt trong giai đoạn khó khăn khi tổ chức Hội Dòng Trái Tim Vô Nhiễm Đức Maria (Congregation of the Immaculate Heart of Mary) và xin được phép chính thức từ Rôma để bắt đầu công việc tông đồ với người gốc Phi. Các môn đệ của Libermann coi việc ngài được chữa khỏi bệnh động kinh vào thời điểm này và được thụ phong linh mục sau đó như một sự chấp thuận từ thiên đàng đối với sứ mệnh của “nhóm nhỏ” của ngài, mà ngài đã trở thành nhà lãnh đạo có sức lôi cuốn và tông đồ có tầm nhìn xa trông rộng.

Gia nhập Dòng Spiritans

Chẳng bao lâu, nhóm đang phát triển của ngài được Rôma yêu cầu hợp nhất với một cộng đồng Dòng tu khác đã thành lập lâu đời hơn nhiều, có tư cách pháp lý và giáo luật tại Pháp, nhưng đang gặp khó khăn vào giữa những năm 1800. Hội Dòng đó chính là Dòng Spiritans. Năm 1848, nhóm trẻ, đầy nhiệt huyết và đang phát triển mạnh mẽ của Libermann đã gia nhập Dòng Spiritans, ngay lập tức mang lại sức sống mới rất cần thiết cho Hội Dòng.

Libermann đã chiêu mộ và giáo dục các nhà truyền giáo, cả giáo dân và giáo sĩ. Ngài đã đàm phán với Rôma và với chính phủ Pháp về việc sắp xếp và hỗ trợ nhân sự của mình.

Francis Libermann là người tiên phong trong các chiến lược hiện được công nhận là khuôn mẫu cho hoạt động truyền giáo hiện đại. Ngài thúc giục các Spiritans “trở nên một với người dân” để mỗi nhóm nhận và hiểu Tin Mừng trong bối cảnh truyền thống của chính họ. Lòng nhiệt thành của Cha Libermann truyền cảm hứng đến nỗi khi các chủng sinh ở Pháp nghe tin về cái chết của một số nhà truyền giáo đầu tiên đến Tây Phi, họ đã xếp hàng trước cửa nhà ông để tình nguyện thay thế.

Nguồn cảm hứng cho hàng ngàn người

Ngài đã kiệt sức trong quá trình lãnh đạo công cuộc vĩ đại của mình, và qua đời vào ngày 2 tháng 2 năm 1852, trước sinh nhật lần thứ 50. Đáng ngạc nhiên là bản thân Cha Libermann chưa bao giờ đi ra nước ngoài. Tuy nhiên, ngài đã truyền cảm hứng và trao quyền cho hàng ngàn nhà truyền giáo trên khắp thế giới.

Libermann là một người có tầm nhìn xa trông rộng, một nhà truyền giáo, một người có đời sống tâm linh sâu sắc, người đã ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử trong 150 năm qua. Ảnh hưởng của ngài và của các Spiritans trong Giáo hội và trong thế giới đang phát triển là vô cùng lớn lao.

Cha Libermann đã đối diện với những trở ngại không thể tin được, nhưng vẫn kiên nhẫn chấp nhận những thử thách và gian truân với sự bình an và tĩnh lặng nội tâm lớn lao. Xin Chúa ban phúc lành cho Hội Dòng Spiritan, và cho tất cả chúng ta, qua sự chuyển cầu của Đấng Đáng Kính Francis Libermann. Và xin giáo huấn tâm linh của ngài về Sự Hợp Nhất Thực Tiễn với Thiên Chúa qua Chúa Thánh Thần đưa chúng ta đến gần hơn với con đường nên thánh trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Nguồn: https://spiritanroma.org/

2 Tháng 12, 2025 0 bình luận
0 FacebookTwitterPinterestEmail
Đấng Sáng Lập

Cha Claude Francis Poullart des Places

by Trần Long 2 Tháng 12, 2025
written by Trần Long 3 minutes read

Claude Francis Poullart des Places

26 tháng 2, 1679 – 2 tháng 10, 1709

Từ đặc quyền đến nghèo khó, cuộc đời của Đấng sáng lập Dòng Spiritan, Claude Francis Poullart des Places, là một câu chuyện truyền cảm hứng về sự biến đổi qua Chúa Thánh Thần.

Năm 1679, Claude sinh ra trong giàu có và địa vị, là con trai của một quý tộc Pháp. Ông sống dưới triều đại của Louis XIV và tận hưởng lối sống xa hoa của một nhà quý tộc. Thời thơ ấu, ngài được giáo dục bởi các tu sĩ Dòng Tên (Jesuits), điều này đặt nền tảng cho việc ông gia nhập chủng viện sau này.

Phục vụ người nghèo

Trong khi đang học luật tại Sorbonne ở Paris, Claude đã nhận ra sự chênh lệch và nghèo đói cùng cực trong xã hội xung quanh mình. Sống với các tu sĩ Dòng Tên, ngài nhận thấy điều kiện sống tồi tệ của những cậu bé vô gia cư và thợ quét ống khói. Điều này đã mở mang tầm mắt – và trái tim – của ngài. Claude cảm động muốn giúp đỡ và đã dùng tiền trợ cấp của mình để cung cấp thức ăn và chỗ ở. Ngài sớm nhận ra rằng các cậu bé còn thiếu cả giáo dục và sự nuôi dưỡng về mặt tâm linh. Claude đã tự mình đảm nhận việc dạy kỹ năng và hướng dẫn các em trong đức tin.

Việc Claude tham gia giúp đỡ trẻ em đường phố đã làm sâu sắc thêm đức tin của ngài và đặt ra một cuộc đấu tranh. Liệu ngài có nên từ bỏ tất cả – sự nghiệp luật sư, sự giàu có và một ghế trong Nghị viện – để giúp đỡ người nghèo? Sau nhiều lần suy xét và hướng dẫn tâm linh, Claude quyết định vào chủng viện. Ngài rời bỏ cha mẹ và mong muốn của họ về một sự nghiệp lẫy lừng cho con trai mình, và đi học thần học với các tu sĩ Dòng Tên. Claude nhận thấy rằng nhiều bạn chủng sinh của mình cũng đang gặp khó khăn để đáp ứng nhu cầu cơ bản, và một lần nữa ngài tìm cách giúp đỡ.

“Vào ngày Chúa Nhật Lễ Ngũ Tuần năm 1703, Claude đã tập hợp một nhóm nhỏ các chủng sinh nghèo khổ để thành lập một cộng đoàn tận hiến cho Chúa Thánh Thần, dưới sự bảo trợ đặc biệt của Đức Maria.”

Dòng Chúa Thánh Thần (Holy Ghost Congregation) được khai sinh. Mục đích của họ là hỗ trợ những sinh viên ít phương tiện trên con đường trở thành linh mục.

Ý định là những linh mục này sau đó sẽ phục vụ người nghèo ở nông thôn Pháp và những người ở các vùng truyền giáo nước ngoài. Claude vẫn là một chủng sinh khi thành lập nhóm. Bốn năm sau, vào năm 1707, ở tuổi 28, ngài được thụ phong linh mục.

Một Di sản vẫn sống

Sau khi được thụ phong, Cha Claude tiếp tục quản lý cộng đoàn đang phát triển nhanh chóng của mình. Đó là một nhiệm vụ ngắn ngủi; hai năm sau, Cha Claude qua đời vào năm 1709, ở tuổi 30. Ngài được chôn cất trong một ngôi mộ của người nghèo. Di sản của Cha Claude vẫn tiếp tục sống trong Hội Dòng qua sự phục vụ của họ đối với những người có nhu cầu. Các Cha Dòng Chúa Thánh Thần, hay còn gọi là Dòng Spiritan, được Giáo hội công nhận vì đã đi đến những nơi mà không ai khác muốn đến và vì đã sống một đời sống đơn giản trong đức tin sâu sắc.

Nguồn: https://spiritanroma.org/

2 Tháng 12, 2025 0 bình luận
0 FacebookTwitterPinterestEmail
Tin Hội Dòng

Hiệp lời cầu nguyện cho Linh hồn ông cố Gioan

by Trần Long 8 Tháng mười một, 2025
written by Trần Long 0 minutes read

8 Tháng mười một, 2025 0 bình luận
0 FacebookTwitterPinterestEmail
Tin Hội Dòng

Cáo Phó Linh mục Phêrô Nguyễn Thái Của, C.S.Sp.

by Trần Long 29 Tháng 10, 2025
written by Trần Long 0 minutes read

CÁO PHÓ

29 Tháng 10, 2025 0 bình luận
0 FacebookTwitterPinterestEmail
Lời ChúaSuy niệm

Cầu nguyện với Lời Chúa: Chúa Nhật tuần 30 thường niên năm C

by Trần Long 26 Tháng 10, 2025
written by Trần Long 0 minutes read

Nguồn: https://tgpsaigon.net/

26 Tháng 10, 2025 0 bình luận
0 FacebookTwitterPinterestEmail
Các Thánh

26.10.2025 – Thánh Lucian thành Antiôkhia

by Trần Long 26 Tháng 10, 2025
written by Trần Long 1 minutes read

Lạy Chúa Giêsu chiến thắng,
Thánh Lucian thành Antiôkhia (khoảng năm 240–312) đã từng là người tôn thờ ma quỷ, nhưng sau đó đã hoán cải và tin theo Chúa Kitô. Ngài là quan thầy của những người bị quỷ ám, nên con khẩn xin ngài cầu bầu cho tất cả những ai đang thờ phượng Satan và không có ai cầu nguyện cho họ. Họ đang bị bao quanh bởi những người bị ám ảnh bởi sự dữ — xin Chúa gửi đến cho họ những Kitô hữu có thể dẫn họ đến ơn chữa lành và ơn cứu độ.

Trong thời gian chuẩn bị kéo dài suốt tháng này trước lễ Halloween — một ngày mà những người thờ Satan coi là “lễ thánh” của họ — con xin thánh Lucian cầu nguyện cho tất cả những ai đang tôn vinh ma thuật, sự kinh dị, bóng tối và nỗi sợ hãi.

Xin dạy chúng con biết thánh hoá thời gian này, biến nó thành mùa mừng kính Đức Mẹ và các Thánh.

Lạy thánh Lucian, xin cầu cho chúng con.
Amen.

26 Tháng 10, 2025 0 bình luận
0 FacebookTwitterPinterestEmail
Các Thánh

25.10 Thánh Crispin & Crispinian

by Trần Long 25 Tháng 10, 2025
written by Trần Long 3 minutes read

[Bildindex der Kunst und Architektur]

Thánh Crispin và Crispinian là hai anh em thuộc dòng quý tộc Rome vào thế kỷ thứ III. Hai ngài đã rời Roma để chuyển tới Gaul (hiện nay là Nước Pháp), chọn thành Soissons làm nơi hoạt động: ban ngày họ rao giảng Tin Mừng, ban đêm làm nghề đóng giày để sống và giúp người nghèo.

Các ngài bị bắt, bị trói vào cối đá rồi ném xuống song, chịu tra tấn nhiều lần, và cuối cùng chị chém đầu khoảng năm 285 hoặc 286, trong thời kỳ bách hại các Kitô hữu dưới triều Maximian (Herculius) (đông la Đế La Mã cùng với Diocletian.

Các ngài được chọn làm bổn mạng của những nghề như: thợ đóng giày (shoemakers/cobblers), thợ thuộc da (tanners), thợ làm yên ngựa (saddlers) và những ngành nghề liên quan da-giày.

Từ cuộc sống của hai thánh, có những điểm nổi bật để suy ngẫm:

  • Lao động + đức tin: Cuộc sống của các ngài không chỉ tập trung vào việc rao giảng Tin Mừng, mà còn “làm việc bằng tay” để nuôi sống mình và giúp người nghèo.
  • Kiên trì trong bách hại: Cuộc sống của các ngài nhắc nhở chúng ta về lòng can đảm, trung thành, và tín thác vào Chúa cho dù bị xiềng xích, tra tấn, thử thách.
  • Thánh hóa công việc thường ngày: Các ngài đã sử dụng nghề đóng giày như môi trường sống đức tin — nhắc nhở rằng mọi nghề nghiệp, dù bình thường, nếu được làm vì Chúa và vì người khác, đều có thể trở nên thánh thiện.
  • Tình huynh đệ và cộng đồng: Họ hoạt động với nhau như anh em, trong lòng thương người và phục vụ — gợi ý sống cộng đoàn và hỗ trợ lẫn nhau trong Hội Thánh và xã hội.

Lạy Chúa quý yêu,
Hai thánh Crispin và Crispinian là anh em ruột, đã rao giảng Nước Chúa vào ban ngày và làm nghề đóng giày vào ban đêm để nuôi sống gia đình và giúp đỡ những người nghèo khổ.
Con xin các ngài cầu bầu cho những ai ao ước được dấn thân phục vụ Chúa toàn thời gian hay bán thời gian, nhưng chưa thể thực hiện vì gánh nặng tài chính hay trách nhiệm gia đình.
Con cũng xin hai thánh Crispin và Crispinian chuyển cầu cho những ai đang miệt mài lao động để lo cho gia đình, và vẫn quảng đại dành thời gian còn lại để phục vụ Hội Thánh.

Lạy Thiên Chúa nhân lành,
Xin giúp chúng con biết tìm được sự quân bình giữa công việc, sứ vụ và đời sống riêng.
Lạy Chúa là Đấng Quan Phòng, xin ban cho chúng con đủ điều kiện vật chất,
và hướng dẫn chúng con biết dùng thời gian hữu hạn của mình để góp phần xây dựng Nước Chúa.

Hai thánh Crispin và Crispinian, xin cầu cho chúng con. Amen.

Nguồn: https://gnm.org/

25 Tháng 10, 2025 0 bình luận
0 FacebookTwitterPinterestEmail
Tin Giáo Hội

Tông Huấn Humanae Vitae và Familiaris Consortio về ngừa thai

by Trần Long 24 Tháng 10, 2025
written by Trần Long 29 minutes read

Khi Đức Phaolô VI công bố Thông điệp Humanae Vitae (HV) vào ngày 25/07/1968, ngài đã khơi lên nhiều phản ứng khác nhau, thậm chí là sự đối lập mạnh nhất từ trong lòng Giáo hội. Tuy nhiên, đọc chăm chú các tuyên bố của Đức Phaolô VI trong những năm tháng sau đó có thể đặt các nhà bình luận trên hướng suy tư của ngài. Như cha E. Hamel gợi ý, « Thông điệp HV không phải là một tấm đá nguyên khối trong sa mạc nhưng nó có một lịch sử ».

Thông điệp này ra đời đặc biệt trong bối cảnh “não trạng ngừa thai lan rộng” và “nguyên nhân là do bởi hai yếu tố quyết định này: a) một sự trình bày ý thức hệ về vấn đề dân số; b) những khó khăn thực tế của một số đôi bạn, tuy nhiên họ chỉ muốn giải quyết vấn đề bằng những tiêu chuẩn khoa học mà quên đi tính chất ưu việt của luân lý”.

Để trả lời cho sự chúc dữ của Malthus (“một người sinh ra trong một thế giới đã bị chiếm hết chỗ, không tìm thấy một chỗ trong cho bữa tiệc lớn lao của Thiên Nhiên. Chính Thiên Nhiên đã ra lệnh cho người ấy phải cút ngay đi, và đã không chậm trễ thi hành những hăm dọa ấy”), Đức Thánh Cha đã nói trong diễn văn trước Liên Hợp Quốc rằng “Quý vị phải làm cho cơm bánh nên nhiều đủ cho bữa tiệc của nhân loại; trái lại, đừng khuyến khích việc kiểm soát nhân tạo về sinh sản – điều đó rất là phi lý – để làm giảm bớt số khách dự vào bàn tiệc của sự sống”.

Đức Thánh Cha không bao giờ biểu lộ hay để cho hiểu dù là sự nghi ngờ nhỏ nhất về bản chất của học thuyết đang bàn đến. Mặt khác, vì tầm quan trọng của quyết định nằm trong trách nhiệm của mình, ngài đã cảm thấy nhu cầu suy tư dài dòng tỉ mỉ. Các kết quả của Ủy ban đã giúp Đức Phaolô VI đào sâu hơn nữa suy tư của mình và kéo dài nó suốt 2 năm. « Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử của Giáo Hội, một bản văn của Giáo hoàng đã được chuẩn bị cách hợp đoàn và đã chín muồi như thế » (S.E. Plourde, B. Haering).

Giáo huấn trọng tâm của Thông điệp Humanae Vitae (HV)

Sau khi trình bày những biến chuyển ngày nay – gia tăng dân số, mức sống, vị thế của người nữ trong xã hội, tiến bộ kỹ thuật – Thông điệp lưu ý đến não trạng hiện nay đối với con người thời đại mới về việc điều hòa sinh sản (số 2-3). Điều đó đòi hỏi một câu trả lời từ phía Huấn quyền của Giáo Hội: « Cố nhiên không người tín hữu nào phủ nhận quyền hạn của Giáo hội trong việc giải thích luật, điều luật ấy là luật luân lý tự nhiên…, vì lẽ luật tự nhiên biểu lộ thánh ý Chúa… » (số 4).

Chính trong phần giáo thuyết của Thông điệp mà Đức Phaolô VI đề cập đến vấn đề quan trọng về ý nghĩa của hành vi vợ chồng và những hậu quả luân lý mà nó ngụ ý. Ở số 7, ngài nhấn mạnh đến cái nhìn toàn diện về con người và về ơn gọi của nó được dùng làm nền tảng cho mọi suy tư Kitô giáo. Vấn đề sinh sản, cũng như những vấn đề liên quan đến sự sống con người, chỉ có thể giải quyết được trong một cái nhìn toàn diện về con người, nghĩa là trong sự phù hợp với luật luân lý và những nguyên tắc luân lý. Nhằm biện minh cho những phương pháp nhân tạo trong việc điều hòa sinh sản, nhiều người đã nại đến những đòi hỏi của tình yêu vợ chồng và việc « làm cha mẹ có trách nhiệm ». Chính vì thế, « cần làm rõ quan niệm đích thực về hai thực tại lớn này của đời sống hôn nhân » là tình yêu vợ chồng và trách nhiệm làm cha mẹ (số 7).

Số 10 liên quan đến trách nhiệm làm cha mẹ. « Tình yêu lứa đôi đòi hỏi vợ chồng ý thức về sứ mạng của họ ». Khi kêu gọi đến ý thức của đôi bạn, Thông điệp khích lệ họ có một phán đoán có trách nhiệm trước mặt Thiên Chúa. « Chính vì thế trong lãnh vực lưu truyền sự sống, họ không có quyền tự do hành động theo sở thích, tự ý lựa chọn những phương pháp cho là chính đáng, trái lại, phải hướng hành động mình theo đúng thánh ý tạo dựng của Thiên Chúa, thánh ý đó được biểu hiện nơi chính bản chất và các hành vi của hôn nhân cũng như bằng các lời giáo huấn liên tục của Giáo Hội (HV 10, lấy lại Gaudium et Spes (GS), số 51) ». Như thế, Đức Thánh Cha nhấn mạnh, việc làm cha mẹ có trách nhiệm có nghĩa là vợ chồng phải nhìn nhận một cách hoàn toàn những bổn phận của mình đối với Thiên Chúa, đối với bản thân và đối với người khác, như là những bổn phận ấy đến từ luật luân lý khách quan, được Thiên Chúa thiết định và lương tâm ngay thẳng là người diễn tả trung thành nhất. Có như thế mới loại trừ mọi ý hướng làm theo sở thích của mình. Cùng với nguyên tắc căn bản này, Đức Phaolô VI đưa ra nhiều khía cạnh cụ thể cần phải lưu ý để có được một hành động tự do và trách nhiệm: hiểu biết về những tiến trình sinh lý học, vì những định luật nằm trong cơ phận con người[1]; làm chủ lý trí và ý chí trên những xu hướng của bản năng; lưu ý đến điều kiện thể lý, kinh tế, tâm lý và xã hội, để có được sự quyết định phù hợp đúng đắn (số 10).

Lương tâm hay ý thức của đôi bạn do đó sẽ được soi sáng bởi bản chất của hành vi vợ chồng và bởi việc giải thích mà giáo huấn của Giáo hội mang lại. Đó là những gì mà Đức Thánh Cha đã muốn diễn tả ở số 11. Trong khi làm sáng tỏ thế nào là tình yêu vợ chồng và ý nghĩa của thuật ngữ làm cha mẹ có trách nhiệm, cũng như về tương quan giữa hai việc ấy, chúng ta cần hiểu rằng nguyên tắc phán quyết tính chất hợp pháp về một phương thế là tôn trọng bản chất và mục đích của hành vi vợ chồng (số 11), đòi hỏi không bao giờ được tách rời một cách cố tình hai khía cạnh luôn đi liền với nhau: kết hợp và truyền sinh (số 12). Nhắc lại phẩm giá của những hành vi vợ chồng này (« chúng cao quý và chính đáng »), ngài cũng khẳng định rằng « đó là những hành vi hợp pháp, ngay cả trong trường hợp hai vợ chồng có thể đoán trước được là chúng sẽ không có hiệu năng sinh sản, vì những lý do ngoài ý muốn của mình: những hành vi ấy vẫn còn mục đích biểu lộ và làm cho sự liên kết của đôi vợ chồng thêm bền chặt…Tuy nhiên Giáo hội, khi  nhắc nhở con người phải tuân giữ luật tự nhiên…, dạy rằng mọi hành vi hôn nhân phải hướng đến việc truyền sinh ». Trong số 11 này, Đức Phaolô VI minh nhiên quy chiếu đến giáo huấn của các vị tiền nhiệm của mình là Đức Piô XI (Casti connubii) và Đức Piô XII.

Cũng ở số 12, Đức Phaolô VI chú tâm đến các nền tảng của chuẩn mực này. Tiếp nối với Công đồng Vatican II, Đức Thánh Cha không còn gợi lại từ vựng và học thuyết về các mục đích chính yếu và thứ yếu như đã từng được làm trước Công đồng. Học thuyết « nhiều lần được trình bày bởi Huấn quyền » vẫn giữ nguyên, nhưng nó sẽ được làm phong phú bởi suy tư của Đức Phaolô VI. Ngài mang lại một sự làm sáng tỏ cho những phát biểu của GS khi tuyên bố: « Học thuyết này được xây dựng trên mối liên hệ bất khả phân ly, mà Thiên Chúa đã muốn và con người không thể tự ý hủy bỏ giữa hai ý nghĩa (significationem) của hành vi vợ chồng: kết hợp (unitatis) và sinh sản (procreationis)».

Từ ngữ mới xuất hiện và định phẩm cho hành vi vợ chồng là từ « ý nghĩa » (significationem). Hành vi vợ chồng có một cấu trúc riêng nhưng bản chất của nó có nghĩa một thực tại khách quan đối với những ai thực hiện nó. « Nó kết hợp vợ chồng cách sâu xa, làm cho họ có đủ khả năng sinh ra những đời sống mới, theo những luật được ghi khắc nơi chính bản tính (natura) của người nam và người nữ » (số 12). Đức Phaolô VI nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa hai ý nghĩa này…Hành vi vợ chồng kết hợp và đồng thời làm cho có thể sinh sản.

Trong những đặc tính của hành vi vợ chồng, chúng ta được mời gọi khám phá kế hoạch của Thiên Chúa đồng thời vẫn nhìn nhận thân phận giới hạn của chúng ta: « Chúng ta không phải là những chủ nhân của các nguồn mạch của sự sống con người, nhưng là những thừa tác viên của kế hoạch được Thiên Chúa Tạo Hóa thiết lập…. Quả thật, cũng như con người không có trên thân xác mình nói chung một quyền lực vô hạn, thì cũng thế nó cũng không có quyền lực đó, vì một lý do đặc biệt, trên các năng lực sinh sản của mình như thế, do sự sắp đặt nội tại của chúng khơi lên sự sống, mà Thiên Chúa là nguyên lý của nó » (số 13). Ở đây, Đức Thánh Cha quy chiếu trực tiếp đến giáo huấn của Đức Gioan XXIII, người đã từng viết trong Thông điệp Mẹ và Thầy: « Sự sống con người là thánh thiên, từ nguyên thủy, nó trực tiếp mang dấu ấn hành động tạo dựng của Thiên Chúa ».

Chuyển sang những hậu quả thực tiễn, Đức Thánh Cha đặc biệt bàn đến các phương tiện điều hòa sinh sản và luân lý tính của chúng. Trong việc nại đến các nhịp tự nhiên, ngài thấy một khả năng cho đôi bạn thực thi một trách nhiệm làm cha mẹ (paternité responsable)[2]. Ở đây, Đức Thánh Cha xác định lại tính chất bất hợp pháp của việc ngừa thai và phá thai: Bất cứ một động tác trực tiếp nào nhằm ngăn chặn tiến trình thụ thai hay phá thai, hay làm tuyệt sản, vĩnh viễn cũng như tạm thời, hay ngừa thai đều luôn bất hợp pháp. Nghĩa là « bất cứ động tác nào có mục đích, hay dùng làm phương tiện để ngăn chận việc sinh sản, hoặc trước khi hoặc đang khi làm động tác hôn nhân, hoặc làm trở ngại việc diễn tiến tự nhiên của động tác ấy » (số 14). Ở đây cũng không thể áp dụng nguyên tắc « chấp nhận một sự xấu nhỏ hơn » cũng như « nguyên tắc toàn thể », bởi vì đôi lúc có thể coi là hợp pháp việc chấp nhận « một sự xấu luân lý nhỏ để tránh một tai hại lớn hoặc để thực hiện một việc tốt đẹp », thì không bao giờ được phép – cho dù bởi lý do trầm trọng – làm « một việc xấu để đạt tới một sự thiện » (số 14).

Bên cạnh không chấp nhận việc ngừa thai và phá thai, Thông điệp nhắc đến tính chất hợp pháp của việc sử dụng những thời gian không kết đậu nếu nhằm thực hiện việc làm cha mẹ có trách nhiệm (số 16). Giữa phương cách này và phương thế ngừa thai có một sự khác biệt cốt yếu về đối tượng của hành động (số 16). Trong trường hợp ngừa thai, họ chủ ý cản trở một diễn biến của tự nhiên. Trái lại, trong khi sử dụng thời gian không kết đậu, vợ chồng không thực hiện hành động ấy. Lý do là bởi vì thời gian không kết đậu nằm trong trật tự tạo dựng của Thiên Chúa, thuộc luật tự nhiên. Đôi bạn nại đến thời gian này, trong ý thức làm cha mẹ có trách nhiệm với các lý do khác nhau (sức khỏe người mẹ, vấn đề kinh tế….), nhưng vẫn ý thức rằng « luân lý tính của hành động không chỉ lệ thuộc vào ý hướng chân thành và việc cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định theo những tiêu chuẩn khách quan, được rút ra từ chính bản tính của nhân vị và các các hành vi nơi nhân vị » (GS số 51, Familiaris Consortio số 32; HV số 10: « Chính vì thế nên trong lãnh vực lưu truyền sự sống, họ không có quyền tự do hành động theo sở thích, tự ý lựa chọn những phương pháp cho là chính đáng, trái lại, phải hướng hành động mình theo đúng thánh ý tạo dựng của Thiên Chúa, thánh ý đó được biểu hiện bằng chính bản chất và các hành vi của hôn nhân cũng như bằng các lời giáo huấn liên tục của Giáo hội »). Họ nại đến thời gian không kết đậu không bao giờ với ý muốn ngừa thai loại trừ sự sống, nhưng sẵn sàng đón nhận một sự sống mới nếu « vỡ kế hoạch ».

Tầm quan trọng và ý nghĩa của Humanae vitae

Giáo huấn của HV chứa đựng những nội dung chính yếu trong những Huấn quyền trước đây, mà bây giờ chỉ xác nhận lại một cách long trọng. Làm như thế Đức Phaolô VI đã đối đầu một vấn đề quan trọng khác: đó là lập trường của Giáo hội đối với đường hướng nguy hiểm của « nền luân lý mới ».

Thông điệp HV tái xác nhận những nguyên tắc luân lý trường tồn. Sự bất đồng và chống đối mà HV phải chịu là do việc Thông điệp từ chối những yêu sách của nền luân lý mới. HV không chỉ mang lại sự sáng tỏ về « một điểm đặc biệt của luân lý, nhưng còn là một câu trả lời có thế giá bảo vệ như một thành trì không thể sụp đổ và cổ súy tình yêu đích thực của vợ chồng (x. HV, 9) ». Đứng trước một não trạng duy vật gây nên một sự nhượng bộ trong những nguyên tắc luân lý cũng như việc một số nhà thần học bắt đầu bảo vệ những khái niệm ngày càng lệch lạc, HV đã đem lại một lập trường rõ ràng và chắc chắn. Đối diện với những lầm lẫn của cái gọi là « thần học chiều ngang », Thông điệp đã « có một cái nhìn và phương pháp thần học, Kitô học và Giáo hội học, trong nguyên tắc cao cả và phổ quát về « celsitudo vocationis fidelium in Christo » (« vẻ cao đẹp của ơn gọi tín hữu trong Chúa Kitô »), mà chính Công đồng chung trong Sắc lệnh Optatam totius, số 16, đã đưa ra như mẫu lý tưởng cho sự hoàn thiện của nền thần học luân lý…».

Thông điệp còn nói về sự tùy thuộc của lương tâm vào trật tự luân lý khách quan, với những từ ngữ đã được Huấn quyền chỉ dạy (số 19); lặp lại những mối tương quan giữa tình yêu vợ chồng và việc truyền sinh (số 7-13) và nhắc nhở rằng một thái độ mục vụ đúng đắn không thể « làm giảm bớt giáo lý » mà có thể gọi là hợp pháp được (số 29). Nhưng linh mục, là người cha và là vị bác sĩ của tâm hồn…, được mời gọi sử dụng những phương thế tốt lành không làm cho các linh hồn phải xa lánh, bị bỏ rơi.

Việc tái khẳng định ấy còn mang tầm quan trọng đặc biệt bởi vì được đặt nền tảng trên chủ nghĩa nhân vị Kitô giáo của Công đồng Vatican II và đồng thời chối bỏ chủ nghĩa ngụy nhân vị của nền luân lý mới.

Tính cách bó buộc lương tâm trong số 14 của HV

Việc loại bỏ những tham vọng của nền luân lý mới đã lôi kéo một loạt những quan điểm chống đối kịch liệt đối với Thông điệp mà chưa một tài liệu nào của Huấn quyền phải chịu như thế, đặc biệt liên quan đến điểm then chốt nhất là vấn đề về sự xấu tự nội và việc sử dụng những phương pháp ngừa thai nhân tạo. Nền luân lý mới đưa đến cái nhìn về lương tâm như là quyền cá nhân có thể không vâng theo quy luật của Huấn quyền nếu trong trường hợp cá nhân ấy nhận xét một cách xác tín.

HV trái lại khẳng định tính chất ràng buộc trong lương tâm ngay cả trong lãnh vực luân lý mà chính Đức Giáo Hoàng mong muốn, đặc biệt trong số 14: « Căn cứ vào những điểm cốt yếu trong quan niệm của Công giáo cũng như của con người về vấn đề hôn nhân, Ta nhận thấy cần phải tuyên bố một lần nữa là: không thể nào chấp nhận – lý do vì việc đó bất hợp pháp – việc điều hòa sinh sản bằng cách trực tiếp ngăn chặn sự diễn biến đã khởi sự của một mầm sống, và nhất là việc cố ý phá thai, dù với lý do y tế cũng vậy ».

Tính chất ràng buộc lương tâm này đã được nhắn nhủ cho các linh mục cách đặc biệt: « Nhiệm vụ đầu tiên của anh em, nhất là những người phụ trách giảng dạy khoa thần học luân lý, là thẳng thắn trình bày một cách đầy đủ giáo huấn của Giáo hội về hôn nhân. Trong khi thi hành giáo vụ, anh em là những người tiên phong nêu gương chứng tỏ mình hoàn toàn chấp nhận, trong tâm trí cũng như bề ngoài, lời chỉ dẫn của Huấn quyền Giáo hội » (số 28). Trong bài giới thiệu Thông điệp HV, ĐHY Wojtyla và các nhà thần học luân lý ở Cracovi đã nêu rõ hơn tính chất ràng buộc này: « Các đôi vợ chồng cần phải biền biệt những bổn phận cụ thể về ơn gọi của mình trong tiếng nói của một lương tâm đã được huấn luyện kỹ càng. Tuy nhiên, lương tâm không đặt định những quy luật luân lý, chỉ cắt nghĩa và áp dụng những quy luật ấy vào những trường hợp cụ thể của cuộc sống. Đằng sau tiếng nói của lương tâm còn có quyền bính của chính Thiên Chúa và những lề luật mà Ngài đã đặt định ». « Lề luật này đã được giáo huấn của Giáo hội định nghĩa và truyền dạy một cách tỉ mỉ trong Thông điệp HV. Do đó, sau khi ban hành tài liệu này, thật khó nói đối với những người Công giáo về sự vô tri vô tội hay về sự lầm lỗi với ý ngay lành ». Việc lên án ngừa thai và cả những phương pháp nhân tạo bây giờ trở thành một giáo huấn không thể sai lầm của Huấn quyền thông thường và phổ quát. Dịp kỷ niệm 20 năm Thông điệp HV, trong một diễn văn trước Đại hội quốc tế về Thần học luân lý, Đức Gioan-Phaolô II đã muốn lưu ý« về những kết quả đáng khích lệ đã đạt được nhờ nhiều học giả nghiên cứu” trong những năm cuối cùng, nhờ đó có thể « đưa ra ánh sáng sự phong phú của chân lý, và còn hơn thế nữa giá trị rạng ngời và có tính ngôn sứ trong Thông điệp của Đức Phaolô VI, mà ngày này được nhiều người thuộc những nền văn hóa khác nhau quan tâm đến ».

Tông huấn Familiaris Consortio tiếp tục và hoàn thiện giáo huấn của Humane vitae

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II  ký Tông huấn FC vào ngày 22.11.1981 và đề nghị nó cho mọi người như là chứng tá của sự phục vụ của Giáo hội đối với hôn nhân và gia đình. Trả lời cho những người nại đến số đông, Tông huấn FC cho thấy sức mạnh của Giáo hội được bén rễ sâu trong sự hiếu biết của mình và trong lòng yêu mến đối với sự thật. Tông huấn viết: “Theo chân Chúa Kitô, Giáo hội đi tìm chân lý, mà chân lý không phải bao giờ cũng trùng hợp với quan niệm của số đông. Giáo hội nghe theo lương tâm chứ không nghe theo quyền lực” (FC, số 5). Chính vì thế, Tông huấn mời gọi giáo dục lương tâm con người, vì nó “làm cho mỗi người có khả năng phán đoán và nhận ra được những phương tiện thích hợp để mình tự thực hiện theo đúng sự thật nguyên thủy của mình, việc giáo dục lương tâm ấy trở nên một đòi hỏi hàng đầu không thể chối cãi” (FC, số 8). Thông điệp cũng ý thức về những khó khăn trong việc áp dụng giáo lý của Giáo hội cách trọn vẹn, vì thế nó nhắc đến luật tiệm tiến như giải pháp thực tế và thương xót. Luật tiệm tiến mà FC trình bày khác với sự tiệm tiến của lề luật (xem các số 9 và 24), là cách thế diễn tả về khoa sư phạm mà Thiên Chúa đã dùng trong việc dẫn đưa dân Ngài cũng như trong hành trình của các Tông đồ bước theo Chúa Kitô. Nghĩa là diễn tả tính cách lịch sử và thực tế trong đó ơn sủng tăng trưởng trong đời sống của con người và của xã hội, trải qua một “tiến trình năng động được phát triển, từ từ tiến tới trước, nhờ biết dần dần đem các ơn sủng của Thiên Chúa và những đòi hỏi của tình yêu quyết liệt và tuyệt đối của Ngài hội nhập trong đời sống bản thân và xã hội của con người”; và vì thế “cần phải đi qua một tiến trình sự phạm để các tín hữu, các gia đình và các dân tộc và ngay cả nền văn minh có thể từ những gì họ đã nhận được nơi mầu nhiệm Chúa Kitô, được kiên trì dẫn dắt đi xa hơn, đến chỗ có được một ý thức phong phú hơn và đón nhận mầu nhiệm ấy trọn vẹn hơn đối với Huấn quyền này trong đời sống của họ” (số 9).

Trích dẫn GS số 50, Tông huấn FC viết rằng « theo kế hoạch của Thiên Chúa, hôn nhân là nền tảng cho một cộng đoàn rộng lớn hơn, tức là gia đình, vì chính thể chế hôn nhân và tình yêu vợ chồng đều quy hướng đến việc truyền sinh và giáo dục con cái, trong đó chúng tìm thấy sự hoàn thành của mình”. Chính vì lý do ấy mà việc ngừa thai xuất hiện như là sự chối bỏ chính sự thật về tình yêu hôn nhân như thực tại nhân bản: « Như thế, thay vì là cách biểu lộ tự nhiên diễn tả được sự trao hiến trọn vẹn cho nhau giữa vợ chồng, việc ngừa thai là một kiểu biểu lộ mâu thuẫn ngược hẳn lại, theo đó không còn là sự tự hiến cho người kia một cách trọn vẹn; từ đó không những có sự chủ tâm khước từ không chịu mở ngỏ cho sự sống, mà còn làm sai lệch sự thật bên trong của tình yêu vợ chồng, được mời gọi phải là một sự trao ban toàn thể ngôi vị » (FC, 32).

Phục vụ sự sống qua việc truyền sinh

Vì việc phục vụ sự sống là bổn phận căn bản, nên việc mở đường cho sự sống trở thành điều kiện của tình yêu vợ chồng chân thực và là dấu chỉ của tính chân thực ấy.

Khi đề cập vấn đề sinh sản, FC khẳng định rằng « nó là hoa trái (fructus) và là dấu chỉ (signum) của tình yêu vợ chồng, là lời chứng sống động cho sự trao hiến trọn vẹn cho nhau giữa đôi bạn » (số 28). Quả thế, nó chỉ là thực sự hoa trái và dấu chỉ khi thể hiện việc trao hiến bản thân trọn vẹn này. Nó không chỉ là hoa trái và dấu chỉ « sinh học » của sự kết hợp mà thôi, nhưng của chính tình yêu đích thực. Việc sinh sản do đó phải mang lấy những đặc tính luân lý. « Sự phong nhiêu của tình yêu vợ chồng không được giản lược vào chỉ việc sinh con cái, ngay cả khi việc này được hiểu theo nghĩa hết sức nhân bản của nó. Nó được mở rộng và làm cho phong phú bằng tất cả hoa trái của đời sống luân lý, thiêng liêng và siêu nhiên mà người cha và người mẹ đều được mời gọi trao ban cho con cái họ và, xuyên qua chúng, cho Giáo hội và cho thế giới » (số 28).

Việc kết hợp và sinh sản không được tách rời. Tông huấn dạy: « Không thể có sự mâu thuẫn thật sự giữa luật Thiên Chúa về việc truyền sinh với luật Thiên Chúa đòi phải tạo thuận lợi cho một tình yêu vợ chồng đích thực » (số 33).

Trong viễn cảnh này, suy tư thần học được mời gọi lưu tâm đến sự khác biệt nhân chủng học và luân lý mà việc phân biệt giữa ngừa thai và việc nại đến các nhịp độ chu kỳ. Số 32 tiếp cận tính dục con người « như là giá trị và sự dấn thân của toàn thể nhân vị, được tạo dựng có nam có nữ, theo hình ảnh Thiên Chúa ». Quy chiếu đến GS số 51, Tông huấn cho thấy: « Luân lý tính của hành động không chỉ lệ thuộc vào ý hướng chân thành và việc cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định theo những tiêu chuẩn khách quan, được rút ra từ chính bản tính của nhân vị và các các hành vi nơi nhân vị, những tiêu chuẩn vốn tôn trọng, trong một khung cảnh tình yêu đích thực, ý nghĩa toàn diện của sự trao hiến hỗ tương và của sự sinh sản xứng tầm con người »[3]. Tông huấn cũng dựa vào những khẳng định của HV 7, 12 và 14 liên quan đến « mối liên hệ bất khả phân ly, mà Thiên Chúa đã muốn và con người không thể tự ý hủy bỏ, giữa hai ý nghĩa của hành vi vợ chồng: kết hợp và sinh sản » (HV 12). « Khi đôi bạn bằng cách dùng các phương thế chống thụ thai, tách rời hai ý nghĩa mà Thiên Chúa đã ghi khắc trong hữu thể của người nam và người nữ cũng như trong sự năng động hiệp thông tính dục của họ, thì họ đã coi mình là « trọng tài » của kế hoạch của Thiên Chúa, đó là « thao túng » và hạ giá tính dục con người và cùng với tính dục hạ giá cả ngôi vị riêng của họ và của phối ngẫu của họ vì làm suy thoái giá trị của việc trao hiến ‘trọn vẹn’ cho nhau ». Việc ngừa thai đi ngược lại với sự trao hiến trọn vẹn này, không chỉ « không mở cửa cho sự sống », mà còn « làm sai lệch sự thật nội tại của tình yêu vợ chồng ». Vấn đề ở đây là nắm bắt và đào sâu « sự khác biệt nhân chủng và đồng thời luân lý đang tồn tại giữa việc ngừa thai và việc nại đến các (tiết dục) nhịp định kỳ: đó là một sự khác biệt còn quan trọng và sâu xa hơn người ta tưởng, và xét cho cùng, nó bao hàm hai quan niệm về con người và về tính dục con người, bất khả giảm thiểu với nhau » (số 32)[4]. Việc chọn theo nhịp tự nhiên ở đây bao hàm « sự chấp nhận thời gian của nhân vị ở đây là chu kỳ của người nữ ». Chấp nhận « sự đối thoại », « sự kính trọng lẫn nhau », « trách nhiệm chung » và « sự tự chủ ». Như thế, quan niệm về tính dục được bảo vệ trong FC là một quan niệm về tính dục « được tôn trọng và đề cao trong chiều kích nhân bản thực sự và trọn vẹn của nó », được gắn liền với nhân vị và « không bao giờ được sử dụng như một đồ vật ». Trong bối cảnh này, đức khiết tịnh Kitô giáo « không có nghĩa là phủ nhận hay miệt thị tính dục con người, nhưng đúng hơn nó là một năng lực tinh thần giúp bảo vệ tình yêu khỏi những nguy hiểm của sự ích kỷ và của tính bạo động, và đưa tình yêu đến mức thể hiện trọn vẹn » (số 33)[5].

——————————-

Tý Linh

(dựa theo môn học “Luân lý Hôn nhân và Gia đình” của cha Luc Crépy, hiện là Giám mục giáo phận Versailles, Pháp, và tham khảo thêm cuốn “Hôn nhân và gia đình trong các tài liệu của Huấn quyền” của Ramon Garcia de Haro)

—————————————————–

[1] Như thế, chúng ta nhận thấy Thông điệp đã khẳng định rằng « những định luật sinh lý » đưa đến việc truyền sinh nằm ngay « trong bản tính con người ». Đây là một khẳng định mang tính chất nhân bản mạnh mẽ và phù hợp hơn cả, không bao giờ coi thân xác con người như là một đồ vật, nhưng như một thực thể nhân linh. Không phải là muốn biến những quy luật sinh lý thay cho quy luật luân lý, nhưng cần biết phán đoán đâu là những giới hạn mà con người có được trong việc làm chủ trên những quy luật ấy khi liên quan đến thân xác mình, chính vì nó không phải là đồ vật nhưng là thành phần của con người toàn diện.

[2] « Khi chỉ ra sự khác biệt nhân chủng học nền tảng giữa việc ngừa thai và việc nại đến nhịp thời gian của chu kỳ nữ giới, cái mà Đức Bênêđictô XVI gọi là « sự tôn trọng thời gian của người yêu », thông điệp Humanae Vitae đụng chạm mạnh mẽ đến khuôn mẫu đảo ngược tính dục như là sự thụ hưởng. Những người chủ trương cuộc cách mạng tính dục sẽ không bỏ qua cho Đức Phaolô VI vì đã cản trở kế hoạch của họ » (Pierre-Olivier Arduin). Xem thêm diễn văn của Đức Bênêđictô XVI dịp kỷ niệm 40 thông điệp Humanae Vitae.

[3] FC không quên, như một số người đã nghĩ, về yếu tố nội tại và ngoại tại của tính chất luân lý, nghĩa là cùng với đối tượng còn có ý hướng và những động lực hay lý do làm cho ý hướng ấy trở nên ngay thẳng; những yếu tố này cùng được nhắc nhở chung với những tiêu chuẩn khách quan về hành động được thực hiện. Xem thêm Thông điệp Veritatis Splendor, đặc biệt chương II, trong đó nền luân lý mới là đối tượng của sự phê bình của Huấn quyền.

[4] FC khẳng định rằng, trong việc ngừa thai, vợ chồng tự xem mình như là trọng tài cho kế hoạch của Thiên Chúa; trong khi sử dụng những thời kỳ không kết đậu, họ thi hành như những thừa tác viên. Ở đây, cũng cần phải hiểu việc điều hòa sinh sản không phải chỉ là một vấn đề thuộc lãnh vực sinh học, nhưng còn là luân lý. Việc điều hòa về phương diện luân lý còn được gọi là « điều hòa tự nhiên về sinh sản », điều đó có thể được cắt nghĩa là phù hợp với luật tự nhiên, tức phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa trên con người.

[5] Ở đây, việc ngừa thai là một việc làm mất trật tự luân lý chống lại đức khiết tịnh, chỉ có thể do chính vợ chồng vấp phạm : nghĩa là tùy thuộc vào việc sử dụng hôn nhân, được thực hiện trong khi làm mất đi khả năng truyền sinh của hành vi vợ chồng, trong khi chối bỏ việc cộng tác với Thiên Chúa vào ân huệ sự sống cho một con người mới, cũng như ý nghĩa của sự kết hợp vợ chồng, và trong thực tế thu hẹp hành động trao hiến hỗ tương thành một hành động thủ dâm cho nhau. Bởi vậy, khi nói đến hành vi ngừa thai giữa những người không kết hợp trong hôn nhân, thì không phải chỉ là tội ngừa thai, nhưng tùy theo từng trường hợp, đó là ngoại tình hay là dâm dục…Tất cả những điều ấy là những tội chống lại sự khiết tịnh còn hơn là tội ngừa thai của vợ chồng, và việc sử dụng các phương pháp ngừa thai không làm giảm bớt sự xấu, trái lại còn tăng thêm tội, nghĩa là thêm sự xấu này trên sự xấu của hành vi ấy, chẳng hạn như ngoại tình hay dâm dục… Ở đây, một câu hỏi được đặt ra là hành vi ngừa thai tự nó có một ý hướng giết người không? Chắc chắn là không. Tất nhiên, nhiều người nữ trong việc sử dụng một phương cách chống thụ thai, nhất là khi có những lý do chính đáng…, họ không có một chút ý hướng giết người nào cả, hơn thế nữa họ còn sẵn sàng đón nhận với cả tình yêu, hay ít ra là phải chấp nhận, đứa con được thụ thai cho dù họ đã ngăn ngừa. Tuy nhiên, đừng quên rằng não trạng ngừa thai…thường dẫn đến việc phá thai (Ramon Garcia de Haro).

Nguồn: https://xuanbichvietnam.net/

24 Tháng 10, 2025 0 bình luận
0 FacebookTwitterPinterestEmail
Tin Giáo Hội

Thánh Louis Và Zélie Martin, liều thuốc giải độc cho những mô hình phản hôn nhân

by Trần Long 22 Tháng 10, 2025
written by Trần Long 6 minutes read

“Trong số các ơn gọi, hôn nhân là một trong những ơn gọi cao quý và cao cả nhất”, Đức Lêô XIV nhấn mạnh trong sứ điệp gửi tới Đức Giám mục giáo phận Séez, nơi kỷ niệm 10 năm tuyên thánh cho Zélie và Louis Martin, vào ngày 18 và 19/10. Cha mẹ của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, một “cặp vợ chồng gương mẫu” “rất hạnh phúc”, cho thấy “trong những thời điểm rối loạn và mất phương hướng này” rằng “gia đình như Đấng Tạo Hóa đã muốn” không hề “lỗi thời” hay “phiền toái”.

Đức Phanxicô cầu nguyện trước thánh tích của thánh Louis và Zélie, và thánh Têrêsa HĐGS.

Cuối tuần này tại thánh đường Alençon, các gia đình, các cặp vợ chồng, những người độc thân và trẻ em được mời cử hành kỷ niệm 10 năm phong thánh cho Louis và Zélie Martin, vào tháng 10 năm 2015 theo ý muốn của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Thượng Hội đồng Giám mục về sứ mạng của gia đình trong Giáo hội và thế giới. Nhân dịp kỷ niệm này, Đức Lêô XIV không quên liên đới bằng suy tư và cầu nguyện với các tín hữu quy tụ tại thành phố nơi cặp vợ chồng Martin “đã nên thánh trong đời sống hôn nhân của các ngài”. Chính tại thị trấn Orne, phía tây bắc nước Pháp, Zélie và Louis đã gặp nhau, kết hôn và chào đón chín đứa con của mình. Năm người con gái của họ đã trở thành nữ tu và trong số đó có thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, người con út được Đức Piô XI tuyên bố là thánh bảo trợ của các xứ truyền giáo vào năm 1927.

Vào tháng 10 năm 2015, cặp vợ chồng Martin là cặp vợ chồng đầu tiên được tuyên thánh, “một sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt vì nó làm nổi bật hôn nhân như một con đường nên thánh”, Đức Lêô XIV lưu ý trong sứ điệp gửi Đức cha Bruno Feillet, Giám mục giáp phận Séez. Quả thế, Đức Thánh Cha cho rằng trong số những ơn gọi mà con người được Thiên Chúa kêu gọi, “hôn nhân là một trong những ơn gọi cao quý và cao cả nhất”. Như Đức Hồng y Martins đã khẳng định trong lễ tuyên chân phước cho các ngài vào năm 2008, Louis và Zélie hiểu rằng họ có thể nên thánh “không phải ‘bất chấp’ hôn nhân, nhưng ‘ngang qua’, ‘trong và nhờ’ hôn nhân, và cuộc hôn nhân của các ngài nên được coi là điểm khởi đầu của một cuộc vươn lên cho cả hai”.

Mẫu gương và sự nâng đỡ cho các đôi vợ chồng ngày nay

Đức Thánh Cha hy vọng rằng mười năm này sẽ là một cơ hội để làm cho cuộc sống và công đức của đôi vợ chồng và cha mẹ “có một không hai” ở Alençon này được biết đến nhiều hơn. Ngài nhìn thấy nơi họ “một mẫu gương sáng ngời và thú vị” cho các cặp đính hôn, nhưng cũng là sự nâng đỡ cho các gia đình “đôi khi rất mong manh và bị thử thách”.

Khi chiêm ngưỡng lối sống Kitô hữu của các ngài, Đức Thánh Cha nhấn mạnh sự kiện rằng các ngài không bao giờ “rút lui khỏi thế gian” trên hành trình nên thánh của mình. Louis và Zélie là những “vị thánh kề bên”, tham gia vào xã hội Norman thông qua giáo xứ, các hoạt động nghề nghiệp, công việc từ thiện, các mối quan hệ thân thiện và cuộc sống gia đình của các ngài. Ở Alençon, người ta có thể thấy khuôn khổ cuộc sống hàng ngày của các ngài, “bề ngoài bình thường”, nhưng “được sống bằng một sự hiện diện ít ra cũng phải “phi thường””. “Thiên Chúa được phục vụ trước tiên” là phương châm mà các ngài đã xây dựng toàn bộ cuộc sống của mình.

Đức Thánh Cha mời gọi Giáo hội giới thiệu với những người trẻ đang ngần ngại “dấn thân vào một cuộc phiêu lưu rất đẹp đẽ”, giới thiệu cho họ cặp vợ chồng “gương mẫu” này, vì sự chung thủy và quan tâm đến nhau, lòng nhiệt thành và sự kiên trì trong đức tin của các ngài, cũng như cách họ giáo dục con cái và thực thi bác ái và công bằng xã hội. Nhưng đối với Đức Thánh Cha, chứng từ quan trọng nhất của các ngài là chứng từ về “niềm hạnh phúc khôn tả và niềm vui sâu xa mà Thiên Chúa ban cho, ngay trên trần gian này và trong cõi vĩnh hằng, cho những ai dấn thân vào con đường trung thành và phong nhiêu này”.

Thuốc giải độc cho các mô hình phản kết hôn

Đức Thánh Cha nói, trong những thời điểm “rối loạn và mất phương hướng” này, “nơi rất nhiều mô hình phản hôn nhân, thường thoáng qua, chủ nghĩa cá nhân và ích kỷ, với những trái đắng và đáng thất vọng, được giới thiệu cho giới trẻ, gia đình như Đấng Tạo Hóa đã mong muốn có thể có vẻ lỗi thời và phiền toái”, thì Louis và Zélie Martin làm chứng rằng không hề như vậy. Đức Thánh Cha gợi lên niềm vui “sâu xa” của các ngài, đã trao ban sự sống, đã truyền đạt đức tin và đã nhìn thấy các con gái của các ngài lớn lên dưới cái nhìn của Chúa. Ngài nói về bữa trưa của họ sau thánh lễ, về thời gian cầu nguyện và lắng nghe của các ngài. Đức Lêô XIV đã thốt lên trong sứ điệp của mình: “Thật an ủi khi được cùng nhau trong cuộc thử thách, kết hợp với Thập giá Chúa Kitô khi Thập giá xuất hiện; và cuối cùng, thật là hy vọng khi một ngày nào đó được đoàn tụ trong vinh quang thiên đàng!”.

Do đó, Đức Thánh Cha mời gọi các cặp vợ chồng “can đảm kiên trì trên con đường đôi khi khó khăn và vất vả, nhưng sáng ngời” mà họ đã đảm nhận. Ngài mời gọi họ đặt Chúa Giêsu vào trung tâm gia đình, trong những lựa chọn của họ. Đức Thánh Cha khẳng định: “Hãy cố gắng làm cho Người được yêu mến như Người đáng được”, đây là sự truyền đạt đã khiến Thánh Têrêsa yêu mến Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

Sau cùng, Đức Giáo Thánh Cha đã phó thác tất cả các gia đình cho sự bảo vệ của hai thánh Louis và Zélie Martin và thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu.

Tý Linh

Nguồn: https://xuanbichvietnam.net/

22 Tháng 10, 2025 0 bình luận
0 FacebookTwitterPinterestEmail
Newer Posts
Older Posts

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

  • Thánh lễ Truyền Chức Linh mục và Phó tế 2025

    30 Tháng 12, 2025
  • Đấng Đáng Kính Cha Francis Libermann

    2 Tháng 12, 2025
  • Cha Claude Francis Poullart des Places

    2 Tháng 12, 2025
  • Hiệp lời cầu nguyện cho Linh hồn ông cố Gioan

    8 Tháng mười một, 2025
  • Cáo Phó Linh mục Phêrô Nguyễn Thái Của, C.S.Sp.

    29 Tháng 10, 2025
Back Next

TÌM KIẾM

VIDEOS

1 Thumbnail youtube Mục vụ ở Kenya 04:27 2 Thumbnail youtube Vũ điệu Kenya 02:47 3 Thumbnail youtube Mục mục truyền giáo quốc tế - Dòng Chúa Thánh... 07:24 4 Thumbnail youtube "Jumuia" nghĩa là nhóm Kitô hữu nhỏ 00:56 5 Thumbnail youtube Thánh lễ khấn trọn 29.06.2023 | Dòng Chúa Thánh Thần 02:09:10 6 Thumbnail youtube Thánh lễ truyền chức Linh Mục 2023 | Dòng Chúa... 02:27:02 7 Thumbnail youtube Thánh lễ truyền chức phó tế năm 2023 | Dòng... 01:55:11 8 Thumbnail youtube Ơn Gọi Dòng Chúa Thánh Thần 10:13 9 Thumbnail youtube The death aniversary of Br Valentino Nguyen Phuoc Thong |... 14:55 10 Thumbnail youtube Dòng Chúa Thánh Thần | Chính Chúa Chọn Con 04:57

Giới thiệu

Website Dòng Chúa Thánh Thần Việt Nam.

Liên hệ

info@spiritans.vn

© 2020 Spiritans Vietnam. Mọi quyền được bảo lưu.

Dòng Chúa Thánh Thần Việt Nam
  • TRANG CHỦ
  • VỀ HỘI DÒNG
    • Lịch Sử
    • Linh Đạo
    • Sứ Vụ
    • Đấng Sáng Lập
      • Cha Poullart des Places
      • Cha Francis Libermann
    • Các Thánh – Chân Phước
    • Tư Liệu
      • Chapter Vietnam and India Group 2022
      • Thông tin tổng hợp
  • ƠN GỌI
    • Thông Tin Tuyển Sinh
    • Tìm hiểu ơn gọi
    • Giai Đoạn Đào Tạo
    • Câu Chuyện Ơn Gọi
  • Spiritans News
  • TIN TỨC & HOẠT ĐỘNG
    • Hội Dòng
    • Giáo Hội VIỆT NAM
    • GIÁO HỘI HOÀN VŨ
  • SUY NIỆM & CẦU NGUYỆN
    • Suy Niệm Lời Chúa
    • Suy Tư & Tản Mạn
    • Cầu Nguyện
      • Chúa Ba Ngôi
      • Chúa Giêsu Ki-tô
      • Chúa Thánh Thần
      • Mẹ Maria
      • Kinh Nguyện
  • LIÊN HỆ
Sign In

Keep me signed in until I sign out

Forgot your password?

Password Recovery

A new password will be emailed to you.

Have received a new password? Login here