Bài Cảm Nhận về Cha Poullart des Places  Của Thầy Phêrô Nguyễn Viết Tương

Vài Cảm Nhận về Cha Poullart des Places      

Phêrô Nguyễn Viết Tương, CSSp  

 Trong vài trang sau đây, chúng ta cùng tìm hiểu đời sống nhân đức của cha Claude Francois Poullart des Places. Có lẽ môi trường gia đình là yếu tố nền tảng ban đầu ảnh hưởng mạnh mẽ trên đời sống đức tin của một con người. Cha Poullart des Places được sinh ra và lớn lên trong một gia đình công giáo đạo đức. Điều kiện gia đình khá giả nên ngài đã có cơ hội để học hành đầy đủ; và đặc biệt môi trường học tập ở dòng Tên lại càng thuận lợi hơn trong việc cũng cố đời sống đức tin của ngài. Ngài tham gia các buổi sinh hoạt nhóm với các bạn, hơn nữa còn có sự đồng hành và nâng đỡ của người hướng dẫn về đời sống thiêng liêng đã giúp cha ngày càng khám phá ra đời sống ơn gọi của mình. Điều đó tăng thêm động lực và nguồn sức mạnh để cha có can đảm chọn Đức Kitô trên con đường dấn thân theo Người. Trong khi nhiều người đang khát khao tìm cho mình một chỗ đứng trong xa hội, đặc biệt là những sinh viên mới ra trường thường hăng say tìm kiếm cho mình một công việc thích hợp để ổn định cuộc sống và thăng tiến bản thân. Thì đối với cha Poullart des Places, ngài lại tìm cho mình một ngã rẽ khác, ngã rẽ dẫn ngài đến sự từ bỏ và hoàn toàn chết đi cho con người cũ của mình và mặc lấy con người mới là Đức Kitô để phục vụ cho vinh quang nước Chúa. Cha đã tự do hoàn toàn để bước vào đời, sống giữa đời một cách âm thầm và khiêm tốn phục vụ tha nhân, phục vụ những người cùng khổ nhất trong xã hội. Những nhân đức của ngài được cụ thể hóa qua những cử chỉ yêu thương tha nhân và qua đời sống kết hợp mật thiết với Chúa.[1]

Cha Poullart, một con người sống cho người nghèo

Khi còn là một sinh viên, chàng trai trẻ Poullart des Places đã cảm nhận được tiếng gọi từ trong sâu thẳm của lòng mình và tiếng gọi đó đã giúp ngài dần khám phá ra chương trình của Chúa muốn thực hiện trên cuộc đời của mình. Khi con đường học vấn của ngài đang đạt đến đỉnh cao thì ngài lại muốn từ bỏ sự nghiệp đó để bước theo tiếng gọi mời cho một lý tưởng hiến dâng và phục vụ. Nhưng vì vâng lời cha mình, ngài đã tiếp tục việc học và đã tốt nghiệp ngành luật. Sau khi tốt nghiệp ngài đã có thời gian tĩnh tâm, phân định ơn gọi của mình. Ngài đã thực sự nghe tiếng Chúa mời gọi dấn thân cho một lý tưởng cao quý hơn; từ đó ngài đã quyết tâm đi theo con đường mà ngài đã ao ước. Poullart gia nhập vào gia đình mới, gia đình chủng viện, Ý Chúa nhiệm mầu và Người luôn có những kế hoạch riêng cho cuộc đời những ai hằng tin tưởng và dấn bước theo Ngài. Đối với cha Poullart thời gian chủng viện là cơ hội để ngài thực hành đời sống nhân đức, đặc biệt là lòng bác ái, yêu thương đối với người nghèo.

Ngài đã thể hiện tinh thần yêu thương trước hết đối với những chủng sinh nghèo, những linh mục trong tương lai, họ đã phải đương đầu với những khó khăn trong đời sống ơn gọi của mình, thiếu thốn tài chánh để trang trải cho việc học cũng như những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống hằng ngày. Cha Poullart đã đồng hành và giúp đỡ các chủng sinh nghèo này, ngài đã lấy khoản tiền bố mẹ trợ cấp cho cuộc sống hằng ngày của mình để giúp đỡ họ. Ngài đã tìm được một căn nhà để quy tụ những chủng sinh nghèo, ngài đã cùng ở và cùng học tập với các chủng sinh nghèo này, hàng tháng giúp đỡ cho họ tiền ăn, tiền ở và cả tiền học nữa. Ngài không những giúp đỡ về đời sống vật chất mà còn hướng dẫn họ về đời sống thiêng liêng. Ngài đã nhận thấy vấn nạn đang tồn tại trong xã hội lúc bấy giờ, sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội ngày càng cao, người nghèo ít được ai để ý tới, đặc biệt là những người bần cùng trong xã hội, không nơi nương tựa. Nhận thức được thực tế đó, cha Poullart des Places đã thành lập một cộng đoàn đầu tiên vào ngày 27 tháng 5 năm 1703, vào ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, cộng đoàn này luôn sẵn sàng dấn thân để phục vụ người nghèo và là nơi đào tạo các chủng sinh nghèo.  ngài đã thánh hiến cộng đoàn đầu tiên này cho Chúa Thánh Thần dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên tội. [2]

Cha Poullart đã sống tinh thần nghèo khó mà Đức Kitô đã dạy dỗ các môn đệ, hãy đón nhận và sống ưu tiên số một cho Nước Trời, quy hướng mọi sự về đó. Bởi thế, những người nghèo theo tinh thần được cho là có phúc, vì Nước Trời là của họ, họ là những người sống tình trạng mong đợi, khao khát và đón nhận Nước ấy. “Tin mừng được loan báo cho những người nghèo” (Lc 4,18), Đức Giêsu đã công bố như thế ngay từ đầu sứ vụ của Người trong hội đường Nazaret. Đức Giêsu kêu gọi những ai muốn làm môn đệ của Người, phải từ bỏ của cải, nhà cửa ruộng vườn, gia đình, đó là khởi đầu cuộc hành trình làm môn đệ bằng sự từ bỏ. “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí” (Lc 12,33). “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,33).  “Hãy bán tất cả những gì anh có mà phân phát cho người nghèo, và anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Lc 18,22).[3]

Nghèo khó tự thân không phải là một mục đích của đời Kitô hữu, nhưng là một phương thế để sống yêu thương hơn nữa, để bước vào không gian của đức mến vốn không bao giờ mất được. Do đó, tinh thần nghèo khó cần luôn luôn và trước hết phải được chứng thực trong thực hành đức bác ái, yêu thương hằng ngày hướng đến những người đang sống xung quanh mình, đến những người túng thiếu nhất.

Quả thật, Cha Poullart des Places đã không sinh ra trong hoàn cảnh nghèo, nhưng ngài đã quyết định chọn lựa một cách triệt để sống trong sự khó nghèo, noi gương đời sống nghèo khó của Đức Kitô. Điều này được chép lại trong bản tự thuật đầu tiên của ngài, gia đình của ngài đã rất lo lắng khi thấy ngài thực hành các nhân đức, cách riêng là nhân đức khó nghèo một cách cương quyết. Ngài không chỉ sống nghèo khó về mặt vật chất nhưng còn khó nghèo về khía cạnh khác nữa là chối từ sự kính trọng của người khác, về quyền lợi mà ngài được hưởng giống như một thành viên của gia đình quý tộc. Ngài đã sống một cách bình đẳng với những người nghèo khổ, bằng những cử chỉ yêu thương, bác ái và chia sẽ với những người vô gia cư nơi đầu đường xó chợ, đến với họ theo cách thức của họ, ăn mặc như người nghèo, đến cùng họ để hòa nhập, để hiểu và đồng cảm với họ trong những hoàn cảnh éo le nhất của cuộc đời. Cha Poullart đã viết rằng: Ngài muốn một ngày nào đó mình cũng trần trụi về mọi thứ, sống nhờ vào sự bố thí của mọi người, đó là sự nghèo khổ tột cùng của thân phận con người.

Đó là con đường yêu thương mà cách đây hơn 300 năm cha Poullart đã sống. Còn đối với tôi một người đang trong tiến trình đào tạo để tiến bước theo con đường của cha Poullart des Places trong dòng truyền giáo Chúa Thánh Thần, tôi đã và đang thực hành đời sống nhân đức yêu thương đối với người nghèo thế nào? Đó là điều tôi cần phải suy nghĩ để sống và thực hành trong đời sống dâng hiến của mình.

Cha Poullart des places một tấm gương sáng về đời sống cầu nguyện.

Đời sống cầu nguyện là điều mà cha Poullart des Places luôn đặt ưu tiên hàng đầu. Mỗi sáng mai thức dậy điều đầu tiên ngài làm là tạ ơn Chúa cho một đêm đã qua và có thêm một ngày sống mới. Trong thời gian biểu hằng ngày của mình, cha Poullart đã chuẩn bị ít nhất sáu thời điểm để dành riêng cho việc cầu nguyện. Trước giờ kinh sáng, ngài thường dâng lời nguyện để xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng và xin Đức Trinh Nữ Maria bảo vệ, chở che.[4] Ngài thường đọc kinh sáng với sự mở đầu bằng kinh cầu cùng Chúa thánh Thần, và ba kinh lạy cha cùng với ba kinh kính mừng. Cuối giờ kinh sáng này ngài thường kết thúc với thánh vịnh 130. Ngài cũng cầu nguyện cho những sự hy sinh và vất vả của bố mẹ đã sinh thành dưỡng dục ngài khôn lớn. Trong giờ kinh tối trước Thánh Thể Chúa, cha Poullart thường cầu khẩn danh thánh Đức Giê Su cùng với những lời cầu nguyện với Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta còn biết đến cha Poullart với mẫu gương về lòng mến yêu Thánh Thể. Ngài đã cảm nghiệm và kín múc được nguồn ân sủng dồi dào từ việc suy chiêm mầu nhiệm về Thánh Thể, bởi thế mà ngài đã dành nhiều thời gian trong ngày để đến viếng Thánh Thể Chúa.

Việc chầu Thánh Thể là một hành vi hiệp thông thiêng liêng với Chúa. Hơn nữa, đó còn là sự tham dự một cách sâu xa hơn vào Mầu nhiệm Vượt Qua để gặp gỡ một cách thân tình hơn với Chúa. Qua sự thinh lặng trước Thánh Thể, chúng ta dễ dàng mở lòng mình ra để đón nhận ân sủng tình yêu của Chúa. Cầu nguyện là điều tối quan trọng của người Kitô hữu, vì thế Chúa Giêsu dạy mỗi người phải cầu nguyện như Người hằng cầu nguyện (Lc 6,12); Cầu nguyện trong sự kiên trì và tin tưởng với lòng khiêm tốn để nhận ơn tha thứ và vững tâm cầu nguyện đón chờ ngày Chúa đến; Chúa dạy hãy cầu nguyện luôn, kẻo sa chước cám dỗ (Lc 22,40.46).[5] Chúa Giêsu đã mang cả nhân loại trong lời cầu nguyện của mình. Để sống chứng nhân cho Chúa Giêsu ở trần gian và theo lời Người dạy, Thánh Phaolô cũng khuyên các tín hữu hãy cầu nguyện không ngừng, ngày đêm. Ngài nói lên sự cần thiết của cầu nguyện bằng những lời tâm tình mời gọi: “Hãy chuyên cần cầu nguyện” (Rm 12,12). Cầu nguyện là một vấn đề cần thiết, tối quan trọng. Thánh Gioan Kim Khẩu đã so sánh sự cần thiết của lời cầu nguyện với chuyện cá trong nước. Bao lâu cá ở trong nước, nó vẫn sống, hoạt động và tăng trưởng, nhưng nếu cá bị bắt ra ngoài, chắc chắn nó sẽ chết. Cũng vậy, con người muốn sống siêu nhiên cần phải cầu nguyện, nếu không cầu nguyện họ sẽ mất ơn Chúa giúp, rồi dần dà họ sẽ mất sự sống siêu việt không khác nào cá phải chết vì không có nước. Thánh Bênađô cũng đã so sánh sự hô hấp cần thiết cho con người như thế nào, thì lời cầu nguyện cũng cần thiết cho con người như vậy. Đối với linh hồn, cầu nguyện cần thiết cũng như hô hấp cần cho cơ thể con người. Nếu con người hô hấp khó khăn thì thân xác sẽ thành tiều tuỵ, và nếu hô hấp đình chỉ thì con người sẽ chết. Cũng thế, khi ít cầu nguyện, linh hồn con người biến thành bạc nhược, và nếu không cầu nguyện, linh hồn ta sẽ chết đi trước mặt Chúa.[6]

Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn, là sự sống, là sức mạnh của người Kitô hữu. Vì thế cha Poullart luôn bắt đầu một ngày sống của mình bằng giờ cầu nguyện. Ngài luôn dành những khoảng thời gian tĩnh lặng để suy niệm về hành trình nội tâm của mình và kết hợp với Chúa cách sâu xa hơn.

Cha Poullart con người của sự tin tưởng và phó thác.

Phần trên chúng ta đã nói về đời sống cầu nguyện của cha Poullart. Qua đó, chúng ta cũng thấy được một niềm xác tín mạnh mẽ vào Thiên Chúa, ngài cầu nguyện trong đức tin, trong niềm phó thác và cậy trông vào tình yêu Thiên Chúa quan phòng. Ngài phân định để nhận ra đâu là thánh ý Chúa, ngài để cho Chúa làm chủ và hướng dẫn cuộc đời của mình trong những việc làm, trong những quyết định và những kế hoạch cho bước đường tương lai.

Sức mạnh của đời sống người Kitô hữu dựa niềm phó thác và tin tưởng vào Chúa, mở lòng mình ra để cho Người làm chủ cuộc đời mình. Phó thác ở đây không phải là phó mặc cho Thiên Chúa, nhưng mỗi người cần phó thác trong sự tin tưởng và cộng tác một cách đắc lực vào chương trình của Chúa đang thực hiện trên cuộc đời mình. Tin tưởng là điều vô cùng quan trọng, là một hành động của đức tin, là nền tảng cho mối liên hệ giữa con người với Chúa. Đối với cha Poullart des Places ngài đặt hết niềm tin tưởng của mình vào Thiên Chúa, ngài đã từ bỏ những ý riêng của mình để cho ý Chúa được lớn lên trong ngài, bởi ngài biết rằng, Thiên Chúa luôn biết điều gì là tốt nhất cho cuộc đời của mình. Trong một đoạn khác của lời cầu nguyện cha Poullart đã viện dẫn về hình ảnh của thánh Phaolô, ngài phó thác cho Thiên Chúa và để Chúa hướng dẫn. Như thánh Phaolô khi bị mù đã làm theo điều Thiên Chúa đã mặc khải cho ngài. Thánh Phaolô đã phó thác cả cuộc đời mình trong bàn tay của Chúa để người dẫn dắt và làm chủ trên cuộc đời của mình. Những chỗ bằng phẳng hay quanh co, nhấp nhô cũng do Thiên Chúa đặt để trong sự hiện diện của Ngài. [7]

Mặc dù cuộc sống của cha Poullart des Places ở trần gian thật ngắn ngủi, chỉ vỏn vẹn 30 năm cuộc đời, nhưng ngài là một tấm gương sáng về đời sống nhân đức cho nhiều người. Ngài cũng đã để lại cho Giáo hội một hội dòng truyền giáo đầy năng động mang tên dòng Chúa Thánh Thần. Hội dòng ban đầu chỉ là một cộng đoàn nhỏ bé mà giờ đây đã lan rộng khắp năm châu với 60 quốc gia trên thế giới. Đặc biệt các thành viên của dòng đã mang tinh truyền giáo đến với người dân Châu Phi và đóng góp không nhỏ vào việc thành lập Giáo Hội tại Châu Phi.

Tóm lại, cha Poullart des Places đã để lại trong tôi những bài học sâu sắc. Trước hết tôi đã học được nơi ngài đời sống cầu nguyện, người truyền giáo thường bận bịu với công việc của mình, nhưng trước hết và trên hết cần ưu tiên cho đời sống cầu nguyện, kết hợp với Chúa. Đời sống cầu nguyện phải được xem là hơi thở của người truyền giáo. Hai là tình yêu đối với người nghèo vì người nghèo là đối tượng cần được ưu tiên để phục vụ trước hết. Nhưng họ cũng là người dễ bị tổn thương, nên trước hết cần hòa nhập với họ (trở nên nghèo với người nghèo), đến với họ trong phong cách của họ, để hiểu và đồng cảm với họ trong hoàn cảnh thực tế của mỗi người. Một bài học nữa mà tôi nhận được là tâm tình phó thác và tin tưởng vào Chúa để Người làm chủ và hướng dẫn cuộc đời tôi, bởi Người biết điều gì là tốt đẹp nhất cho cuộc đời của mỗi người. Xin ơn Chúa giúp để tôi có thể sống trung thành trong đời sống ơn gọi của mình và luôn ý thức về đời sống ơn gọi truyền giáo trong sứ mạng của dòng Chúa Thánh Thần.

[1] 15 Days Prayer with Claude Poullart des Places

[2] 15 Days Prayer

[3] Kinh Thánh ấn bản 2011

[4] 15 Days Prayer

[5] Kinh Thánh ấn bản 2011

[6] Website,  Suy niệm về đời sống cầu nguyện

[7] Riches to Rags, Claude Francois Poullart des Places., Michael Troy, CSSp

Comments are closed.