Category: Tiểu sử

Dòng Chúa Thánh Thần mừng lễ bổn mạng 2011

Bến Hải vào những ngày đầu tháng sáu dịu lại sau những cơn mưa đầu hè. Màu xanh ngút ngàn mát mắt của hàng cây sọ khỉ và thảm xanh sân quanh nhà Chúa nhè nhẹ mơn man cơn gió mát đến mọi người. Không gian thinh lặng của những ngày thường được thay bởi không khí nhộn nhịp và tấp nập của bước chân hối hả về nhà Cha, sẵn sàng cho Thánh lễ cầu cho bệnh nhân vào thứ Bảy và Mừng bổn mạng của Dòng Chúa Thánh Thần tại Việt Nam vào Chúa nhật.

caccha

Chúa nhật 12/06/2011:

 

10 giờ sáng hôm nay, Dòng Chúa Thánh Thần đã mừng bổn mạng Dòng với bầu khí hân hoan đón chào tất cả mọi thành viên của cộng đoàn, cha xứ Bến Hải, quý cha, quý Bề trên, tu sỹ nam nữ các hội dòng, quý Hội đồng Mục vụ Giáo xứ Bến Hải, Tân Hòa, và quý ân nhân xa gần trong và ngoài nước về nhà thờ Bến Hải cùng hiệp dâng Thánh lễ tạ ơn và mừng bổn mạng của Dòng, cầu nguyện cho mọi người. Trong Thánh lễ, cha Antôn Trinh đã nhắc lại Tình yêu của Chúa Thánh Thần mang đến cho con người nhiều sinh khí của cuộc sống mà Thiên Chúa hứa ban “Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Ngài sao?” (Lc 11,12) chỉ dạy Ki-tô hữu nhận biết rằng, điều cần thiết cho họ hơn hết và phải là điều cốt yếu trong mọi lời khẩn nguyện là xin cho được nhận lấy Chúa Thánh Thần. Hội Thánh qua bao thế hệ không ngừng van nài: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến.”

 

Hôm nay, cộng đoàn dân Chúa Bến Hải và Hội đồng Mục vụ Giáo xứ Bến Hải xin chúc mừng bổn mạng của quý cộng đoàn Dòng Chúa Thánh Thần. Xin Chúa Thánh Thần ngự đến nơi quý cha, quý cộng đoàn, và mỗi người đều nhận lấy ơn Thánh Thần, sai đi và rao giảng.

 

Kết lễ, cha Bề trên Dòng Chúa Thánh Thần Pattrick Phan Bá Thông cũng cám ơn cha xứ, quý cha, quý ân nhân và mọi người cùng dự lễ hôm nay tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần.

Sơ nét về Dòng Chúa Thánh Thần

 

Từ một tình yêu: Đã gần 300 năm, từ một tình yêu mà Claude-Francois tên đầu tiên theo họ cha đỡ đầu của cậu Claude Poullart des Places sau này là Đấng sáng lập Dòng Chúa Thánh Thần, sinh năm 1679 tại Rennes, Pháp. Ước muốn của ngài: “Tôi quyết định đi theo con đường mà Chúa đã chỉ cho tôi”. Cuộc đời của ngài là một thử thách và có nhiều biến đổi lớn. Trong một lá thư gởi cho Louis Grignion de Montfort: “Bạn biết là từ ít lâu nay tôi chia sẻ tất cả những gì tôi có thể giúp học sinh nghèo đi học, tôi biết một số người trong số họ có những khả năng đáng nể phục, nhưng vì không được giúp đỡ, nên họ không thể phát triển và đành chôn vùi những tài năng lẽ ra rất có ích cho Giáo hội. Điều tôi muốn dấn thân vào là đón tiếp họ sống dưới cùng một mái nhà. Dường như chính là điều Thiên Chúa muốn tôi làm”. Đầu năm 1703, vào lễ Hiện Xuống, ngài lúc đó còn là chủng sinh đã bắt đầu thành lập một cộng đoàn những người nghèo muốn đi tu và lập chủng viện thánh hiến cho Chúa Thánh Thần, dưới sự bảo trợ của Đức Maria vô nhiễm nguyên tội. Tất cả khó khăn dường như đều có: từ khó khăn về tiền bạc, từ khó khăn về giờ giấc và công việc luôn tràn ngập nhưng vẫn không nản lòng. Từ việc phải nhờ một người bạn là linh mục làm linh hướng, cha Michel Le Barbier giúp ngài dẫn dắt cộng đoàn cho đến lúc này, đã có được thầy dự bị Phó Tế M. Garnier và Pierre Caris. Ngài thụ phong linh mục ngày 17 tháng 2 năm 1707. Công việc lại tràn ngập khi cha M. Le Barbier bị giám mục của mình gọi về. Sức khỏe của cha Claude Poullart, một sức khỏe chưa bao giờ thật tốt…Cái lạnh và cái đói tác động lên sức khỏe của cha vào mùa Đông khủng khiếp năm 1709 thật dữ dội. Cha nhẹ nhàng trút hơi thở vào ngày 2 tháng 10 năm 1709 khi mới 30 tuổi.

 

Đức ái trên tất cả: Công trình sau cha Poullart vẫn tiếp tục phát triển dù trải qua nhiều khó khăn và ngăn trở và năm 1841, cha Francois Libermann là người sáng lập Hội Dòng Trái Tim Đức Maria theo yêu cầu của Tòa Thánh đồng ý với người của mình nhập vào dòng Chúa Thánh Thần vì cả hai hội dòng đều có mục đích giống nhau: truyền bá Phúc âm cho người nghèo và giúp các linh hồn bị quên lãng nhất.

 

Dòng Chúa Thánh Thần (C.S.Sp): viết tắt bởi tiếng La Tinh – Congregtio Sancti Spiritus; tiếng Anh – Congregation of the Holy Sprit; tiếng Pháp – Congregation du Saint Esprit do cha Claude Poullart des Places sáng lập năm 1703 tại Pháp và cha Francis Libermann sáng lập Dòng Trái Tim Đức Mẹ năm 1841. Năm 1488 hai dòng nhập làm một với tên gọi “Dòng Chúa Thánh Thần” dưới sự bảo trợ của Trái Tim Vô nhiễm Đức Maria. Hiện nay, Dòng có gần 3000 thành viên, sinh sống và làm việc trên khắp thế giới. Trụ sở chính của Dòng đặt tại Roma, nước Ý. Dòng Chúa Thánh Thần là một Dòng Quốc Tế. Linh đạo của Dòng là làm việc truyền giáo theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, mang Tin Mừng của Chúa Giêsu đến với mọi người, đặc biệt cho những người nghèo, những người di dân và những ai chưa biết hay chưa đón nhận Tin Mừng, theo lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Anh Em hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.” (Mc16,15).

 

Linh mục tu sỹ Dòng Chúa Thánh Thần là những thừa sai được kêu gọi rời quê hương, văn hóa của mình để sống và làm việc với những người không cùng chung một nền văn hóa hay khác môi trường; để sống hòa đồng với mọi người mà họ chung sống, làm nhân chứng Tin Mừng Phúc Âm bằng lời nói, việc làm và gương sáng; để nâng đỡ những ai đau khổ bằng những việc bác ái cụ thể, để tất cả nên một trong Chúa Kitô, với châm ngôn: “Cor Unum et Anima Una”- Một Trái tim, Một Tâm Hồn.

 

Các tu sỹ Dòng Chúa Thánh Thần phục vụ theo nhu cầu của Giáo hội hay địa phương, có thể làm việc ở giáo xứ, trường học, và những vùng xa. Họ sẵn sàng đối thoại và hợp tác với những người khác tôn giáo; sẵn sàng giúp đỡ mọi người trong đời sống thiêng liêng cũng như trong cuộc sống đời thường theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu. Đấng đã đến trần gian, chia sẻ thân phận con người và cuối cùng chết trên cây Thập giá để cho chúng ta được hưởng hồng ân cứu độ. “Ta đến để cho con người được sống và sống đồi dào”.

 

Linh mục tu sỹ Dòng đang làm việc ở Âu Châu, Phi Châu, Mỹ Châu và Úc Châu. Riêng tại Á Châu, dòng có mặt ở Pakistan, Đài Loan, Phi Luật Tân và Việt Nam.

Tiểu sử về Cha Claude Poullart des Places

150px-ClaudeSinh ra trong một gia đình ở Tp. Rennes nước Pháp, Cha Claude Poullart des Places đã nhận được một nền giáo dục vững chắc tại một trường Dòng Tên trong cùng thành phố. Cha sống trong thời của nhà cầm quyền Nantes (1698-1700). Sau khi học xong và trở về nhà, Cha đã không hài lòng với công việc kinh doanh của cha mình.

Vì thế, Cha đã tự tìm kiếm cho mình một nếp sống mới. Cha đã đi tham dự những buổi tĩnh tâm trong thời gian này và Cha đã quyết định dâng hiến đời sống mình cho Thiên Chúa. Cha gia nhập trường Đại học Louis-le-Grand tại Paris và là một ứng viên cho chức vụ tư tế (1701).
Khoá học đầu tiên chính là thời gian thay đổi đời sống mới. Tất cả mọi thứ đều thay đổi. Ông Pierre Thomas, một bạn sinh viên cũ cho biết: “Tất cả chúng tôi đều thấy bất ngờ. Cha đã nổi tiếng tại rất nhiều trường đại học nhưng Cha lại từ bỏ tất cả vinh quang và hào nhoáng của thời đại để thực hành văn hoá của sự đơn giản cũng như canh tân hàng giáo sĩ. Mọi người thường thấy Cha trên các con đường của thành phố Paris, cùng trò chuyện một cách bình đẳng với các trẻ em nghèo, ăn mặc rách rưới.”
Đồng thời, Cha đã tham gia và đứng đầu một nhóm cầu nguyện gồm có các chủng sinh và bạn bè của ngài. Nhóm này rất dũng cảm và hăng say hoạt động tông đồ: đến thăm bệnh nhân, dạy giáo lý cho người nhập cư trẻ (có nghĩa là nói đến nhóm người ‘quét ống khói nhà sưởi ấm ở vùng Savoy’). Cha đặc biệt quan tâm đến các “chủng sinh nghèo”, là những người đang gặp khó khăn trong ơn gọi của mình vì tài chính eo hẹp. Cha quyết định sống chung với họ và cùng học với họ tại Chủng Viện.
Trong thời điểm này, bạn của Louis-Marie Grignon de Montfort đã mời Cha tham gia vào công việc truyền giáo của mình nhưng Cha đã từ chối. Cha tìm thấy con đường của mình là ở nơi “các chủng sinh nghèo”, những người đang chuẩn bị cho chức linh mục.

Với ơn Chúa, Cha và nhóm bạn đã dành mười hai ngày để cầu nguyện riêng với Chúa Thánh Thần và với Đức Mẹ Maria vào dịp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, 27 tháng 5 năm 1703 tại thánh đường St-Etienne-des-Gres (Paris). Lễ này được coi là thời điểm khai sinh dòng Chúa Thánh Thần.
Đến năm 1704, Cha Poullart des Places trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin như: đêm tối của tâm hồn, không ưa thích việc cầu nguyện, nghi ngờ về dự án tông đồ của mình. Ngoài ra, nhóm của ‘người bạn của Louis-le-Grand, nơi ông đã đầu tư rất nhiều, đã bị giải thể vì bất đồng nội bộ. Đó là một kinh nghiệm quý giá giúp Cha có những quyết định quan trọng trong những năm sắp tới.
Năm 1705, số lượng các ứng viên trẻ xung quanh Cha mỗi ngày một tăng lên. Cha cần những người huấn luyện. Vì thế, Cha đã tìm sự cộng tác của nhiều vị khác như: Cha Jacques-Hyacinthe Garnier, Cha Jean Le Roy và Cha Michael Vincent Barbier. Những vị này là những cha giáo đầu tiên của dòng Chúa Thánh Thần. Đồng thời, Dòng cũng cần một nơi thích hợp để sống ổn định và học tập. Vì thế, Cha đã đưa những ứng viên trẻ đến nhà trên đường Neuve-Saint-Etienne-du-Mont (hiện là tp. Rollin). Tại đây, Cha đã sống từ năm 1707 đến năm 1709.
Cha Claude Poullart des Places được thụ phong linh mục vào tháng Mười Hai năm 1707. Một thách thức lớn nữa lại đến với Cha vào năm 1709. Mùa đông năm ấy rất khắc nghiệt tại thành phố Paris. Cha Poullart đã xả thân để giúp đỡ những người khốn cùng và rồi chính Cha cũng bị viêm màng phổi. Cha mất ngày 2 tháng 10 năm 1709 khi mới chỉ ở tuổi 30.

Tiểu sử về Cha Mary Paul Francis Libermann

Libermann3optCha Mary Paul Francis Libermann (tiếng Pháp: François-Marie-Paul Libermann; sinh ra trong một gia đình cha mẹ là Jacob Libermann. Cha sinh ngày 12 tháng 4 năm 1802, là một người Do Thái. Trong đêm vọng Giáng sinh năm 1826, Cha đã được rửa tội và trở thành tín hữu Công giáo. Cha đã sáng lập dòng Mẹ Maria Vô Nhiễm, một dòng mà sau này được sáp nhập vào Dòng Chúa Thánh Thần. Cha được gọi là “Người sáng lập thứ hai của Dòng Chúa Thánh Thần”.

Cha Libermann được sinh ra trong một gia đình Do Thái Chính thống giáo tại một vùng quê nghèo của Saverne, Alsace, Pháp năm 1802. Là một người đàn ông trẻ, Cha Libermann chuẩn bị theo bước chân của cha mình, làm Tư Tế (Rabbi) ở Saverne. Nhưng sau đó, không biết vì lý do gì mà Cha đã đánh mất niềm tin vào đạo Do Thái sau khi nhập Trường Đạo Cao học (Yeshiva).

Ở trường Đạo Cao học, Cha đã bắt đầu đọc văn học Pháp, đặc biệt là của triết gia Rousseau và kết quả là Cha đã trở thành người theo chủ nghĩa bất khả tri. Trong thời gian này, một chủng sinh đã đưa cho Cha một quyển sách Phúc âm từ bản dịch tiếng Do Thái. Là một người rất đạo đức, Libermann bị thu hút bởi những giai điệu tuyệt vời từ các bài giảng của Chúa Giêsu, mặc dù Cha không thể chấp nhận các yếu tố siêu nhiên trong sách Phúc âm. Tuy nhiên sau đó Cha đã bị một đòn đánh rất mạnh vào thuyết bất khả tri của mình khi hai người anh em của mình, người mà Cha rất quý mến, và một người bạn cũ chuyển sang Giáo Hội Công giáo. Vì thế, Cha đã quyết định đến Paris. Sau khi tới Paris, nơi bố mẹ đã sắp xếp để Cha theo đuổi việc nghiên cứu về Đạo Do Thái, Cha Libermann đã quyết định tự nhốt mình vài ngày tại một ký túc xá đại học với một bộ sách giáo lý cầu nguyện. Cuối cùng, Cha Jacob Libermann đã quyết định trở thành tín hữu Công giáo. Cha được rửa tội ngày 24 tháng 12 năm 1826, lấy tên François Marie Paul. Cha gia nhập một chủng viện tại Paris cùng năm này để nghiên cứu về chức vụ linh mục. Các thông tin về sự biến đổi của Cha đã bị bố mẹ Cha che giấu vì sợ hãi. Khi những thông tin về lễ chịu phép rửa tội của Cha diễn ra tại Tp. Saverne được tiết lộ, mọi người của vùng quê nghèo làng xưa đóng cửa chống lại Cha và bố mẹ Cha sau đó đã khước từ Cha và làm lễ thương tiếc Cha như thể Cha đã chết.

Cha thuật lại rằng:

“Với tôi, đó là một thời điểm vô cùng đau đớn. Sự cô đơn, u ám xâm chiếm cõi lòng tôi, ví như bầu trời bị mây đen che phủ. Những suy nghĩ về gia đình tôi, đất nước tôi, tất cả đã làm cho trái tim tôi rơi vào nỗi buồn sâu sắc nhất và đè nặng trái tim tôi. Sau đó, tôi đã nhớ đến Thiên Chúa, tôi đã quỳ xuống và cầu xin Ngài soi sáng cho tôi để tôi hiểu về tôn giáo cách đích thực. Tôi đã được biết đến Đức Kitô là niềm tin và là sự thật. Nhưng nếu nó là sai, xin Chúa lấy đi những ý tưởng ấy ngay lập tức, cho những người bên cạnh tôi hiểu tâm hồn sâu kín của tôi, nghe lời cầu nguyện của tôi, và lúc đó tôi đã được “giác ngộ”. Tôi đã được nhìn thấy sự thật. Đức tin thâm nhập tâm trí và vào trái tim của tôi. Bản thân tôi, tôi đọc được quyển sách Lhomond. Nó đã giúp cho tôi. Tôi có khả năng chấp nhận dễ dàng tất cả những gì Kinh Thánh kể lại về cuộc đời và cái chết của Chúa Giêsu Kitô, ngay cả mầu nhiệm Thánh Thể, mặc dù cách trình bày về bí tích này khá kém sự khôn ngoan theo nhận xét của cá nhân tôi. Không gì có thể lấy đi đức tin tôi đã có. Tôi tin rằng tất cả các khó khăn đó đã khiến tôi khát khao chìm sâu vào đời sống thiêng liêng hơn và đạt được hạnh phúc đích thực. Cùng lúc, tôi đã chuẩn bị cho việc lãnh nhận Bí Tích tuyệt diệu này. Tôi đã lãnh nhận được bí tích rửa tội vào dịp lễ Giáng sinh và sáng hôm sau đêm giao thừa, tôi đã được chịu phép Thêm Sức. ”

Một thập giá khác nơi Cha Libermann là Cha bị mắc chứng bệnh động kinh, một căn bệnh đã làm Cha đau khổ gần mười năm. Chỉ khi các cơn co giật của căn bệnh đã ngừng hẳn vào năm 1841 thì Cha mới có thể trở thành một linh mục. Sau khi chịu chức, Cha Libermann thành lập một cộng đoàn nhỏ hướng tới các hoạt động truyền giáo cho những người nô lệ vừa được trả tự do tại Réunion, Haiti, và Mauritius.

Khi nhóm này thu hút được nhiều thành viên, Tòa Thánh đã sáp nhập Dòng Trái Tim Đức Maria Vô Nhiễm với Dòng Chúa Thánh Thần, hay còn gọi là “Spiritans”. Với sự kiện này, Cha Libermann được gọi là “Đấng sáng lập thứ hai” của Dòng Chúa Thánh Thần.

Đấng Sáng Lập Dòng

Dấng Sáng Lập Dòng

 

 

ĐẤNG SÁNG LẬP

FOUNDERS OF CONGREGATION OF THE HOLY SPIRIT

 

 

 250px-Claude_Poullart_des_Places

Cha Claude Poullart Des Places

Sinh năm: 1679

Cha sáng lập Dòng Chúa Thánh Thần năm 1703

Mất năm: 1709

*******************************************************************

Cha Thứ Hai sáng lập Dòng Chúa Thánh Thần

 Francis Libermann

Cha Francis Libermann     Sinh năm: 1802

Cha sáng lập Dòng Trái Tim Đức Mẹ năm 1841

Tổng Quyền thứ 11 của Dòng Chúa Thánh Thần năm 1848

Mất năm: 1852

Spiritans Là Ai?

Một thành viên của các giảng viên của trường đại học Duquesne, Linh mục cũng là giáo sư Henry J. Koren, CSSp, STD., đã viết câu chuyện các Cha Dòng Chúa Thánh Thần.  Ông cho phép các công việc của mình Các Spiritans, và giải thích rằng “Spiritans” là tương đương quen thuộc của” các Cha Dòng Chúa Thánh Thần.
“Đối với thế hệ các thành viên của Tu Hội của Đức Thánh Linh và các linh mục thế tục được đào tạo bởi chúng đã được biết đến ở khắp mọi nơi như ông bố Đức Thánh Linh. Từ nay danh hiệu này, hoặc hình thức phổ biến của nó “Spiritan,” là dành riêng cho các thành viên của Giáo Hội.
Mục đích của công việc này là có thể trình bày các tài liệu lịch sử của Giáo Hội Công Giáo môt đai nhà dòng  Chúa Thánh Thân. Thánh của Đức Thánh Linh là một trong những giáo đoàn lâu đời nhất (như trái ngược với đơn đặt hàng) và đứng thứ tư trong số đó có kích thước. Nó bắt đầu từ năm 1703 và, sau khi đạt được một thời gian nở hoa trong thời gian đó nó đã phục vụ Giáo Hội người quí tộc trong suốt phần lớn thế kỷ mười tám, nó đến gần để tiêu hủy hoàn toàn trong Cách mạng Pháp năm 1792. Phục hồi năm 1804, nhưng vẫn yếu của cuộc đàn áp tái phát, chỉ trích bởi tất cả và phỉ báng bởi nhiều người, Dòng ra sức để tiếp tục nhiệm vụ của mình trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XIX. Điều này đã kết thúc thời kỳ đen tối và mệt mỏi của xã hội cảm thấy một bùng nổ của cuộc sống mới khi Cha Francis Libermann và đồng bạn của Cha đã nhập nó vào năm 1848. Kể từ đó, Hội Dòng đã có được một giai đoạn tăng trưởng ổn định và thành tích.

SPIRITANS, NGƯỜI SÁNG LẬP DÒNG

Một lời về người sáng lập tài năng và đạo đức thánh thiện của nó là nhằm vào thời điểm này.Claude-Francois des Poullart Địa điểm thành lập Tu Hội của Đức Thánh Linh và của trái tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria trên Whitsunday, 1703, với mục đích truyền giáo chuẩn bị cho các linh hồn bị bỏ rơi nhất, dù trong nước hay ngoại đạo Cơ Đốc. Ông là một giáo hội thánh trẻ sinh Breton cao quý và các tài năng xuất sắc, người, ba năm trước đây, trong năm thứ hai mươi mốt tuổi của mình, đã từ bỏ những triển vọng tươi sáng của một luật sư của quốc hội để đón nhận giáo hội nhà nước. Từ khi bắt đầu nghiên cứu tôn giáo của mình, ông biểu hiện một điểm thu hút đặc biệt cho các công trình thấp kém và bị bỏ quên của tổ chức từ thiện.
Claude-Francois đã trở thành đặc biệt quan tâm đến người nghèo, học sinh xứng đáng, về người mà ông thường xuyên dành tất cả của mình có nghĩa là tư nhân và như nhiều như anh có thể thu thập từ bạn bè của mình. Với một tá của các tập hợp quanh ông, ông mở Seminary của Đức Thánh Linh, mà sau đó phát triển thành một xã hội tôn giáo. Công việc phát triển nhanh chóng, nhưng người lao động và lo âu kết nối với nền tảng chứng minh quá nhiều cho sức khỏe yếu đuối của người sáng lập. Khi mà ba mươi tuổi, trong năm thứ hai của chức tư tế của mình, Cha Poullart des Địa điểm chết 02 tháng mười 1709.
Sau cái chết của người sáng lập, các Tu Hội của Đức Thánh Linh tiếp tục để tiến bộ, trở thành đầy đủ các tổ chức, và nhận được sự thừa nhận của chính quyền dân sự và tôn giáo. Nó gửi những người truyền giáo đến các thuộc địa Pháp, và đến Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng bị nhiều từ cuộc Cách mạng Pháp. Khi tai họa đã qua đời, chỉ có một thành viên, cha Bertout, còn lại.Ông đã sống sót một cách kỳ diệu, vì nó đã được, tất cả các cách thức của những thăng trầm, và sau khi hòa bình lập lại cho Giáo Hội, ông lại thành lập Tu Hội, và tiếp tục công việc của mình.Nhưng nó đã được tìm thấy không thể phục hồi đầy đủ từ những ảnh hưởng tai hại của sự phân tán gây ra bởi cuộc cách mạng, và xã hội khôi phục được nguy cơ tuyệt chủng.
Cha LIBERMANN
Đó là tại thời điểm này có đến cứu trợ Cha Libermann của mình và đồng nghiệp của ông truyền giáo của Hội Tâm Đức Mẹ Vô Nhiễm của Mẹ Maria, mà ông đã thành lập năm 1842. Kể từ khi đối tượng của cả xã hội là như nhau, Tòa Thánh yêu cầu người sáng lập của xã hội mới để tiếp cây nó trên Tu Hội cũ của Đức Thánh Linh. Điều này đã được thực hiện trong năm 1848. Hòa thượng Francis Mary Libermann đã được thực hiện các Thượng tướng đầu tiên của xã hội thống nhất, và toàn bộ cơ thể trở nên thấm với tinh thần của mình và của người theo đầu tiên của ông rằng ông là đúng coi là cha đẻ trưởng và người sáng lập của Tu Hội của Đức Thánh Linh và của trái tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria, như là nó tồn tại ngày nay.
Bác sĩ Koren trong Lời nói đầu của ông nói về những thành quả chính của Hội trong thời hiện đại:
Một người có thể gọi sự chú ý cho giới thiệu của một người hoặc nhiều hơn, để sử dụng một thuật ngữ hiện thời trang, một hình thức tồn tại của tâm linh hơn, ảnh hưởng mạnh mẽ của nó trong việc xóa các dấu vết cuối cùng của Gallicanism; và trên hết, nó đóng vai trò tiên phong trong việc truyền giáo có hệ thống Châu Phi. Trong khi chỉ có một vài lạc người da đen người Công giáo trên lục địa châu Phi khi Đức Cha Edward Barron đã hạ cánh tại Cape Palmas năm 1841, hiện nay có gần 24.000.000 người, trong đó một số bốn triệu người sống trong vùng lãnh thổ vẫn còn phục vụ bởi các ông bố Đức Thánh Linh. Trong điều kiện của đời sống con người, giá các nhà truyền giáo đã trả được kinh khủng cao. . . .Các cảnh quan châu Phi là chấm với hơn một ngàn ngôi mộ, trong đó Spiritans chờ đợi sự phục sinh cuối cùng giữa các dân tộc họ đã Christianized.
NĂM ĐẦU CỦA DES NƠI
Những năm đầu tiên của người sáng lập đã được ban phước bởi sự giáo dục cẩn thận và đạo đức ở nhà. nhà của ông là Claude các vườn ươm của các nhân vật của mình và của ơn gọi của mình.quà tặng tinh thần của ông là rõ ràng trong thực tế là ông đã tham gia vào việc nghiên cứu triết học ở độ tuổi rất sớm. Đó là thời gian đó, ông trở thành người bạn thân thiết của một cậu con trai, sáu năm của mình cao cấp, người được mệnh để làm nên lịch sử trong Giáo Hội dưới tên của Thánh Louis Maria Grignion de Montfort, các tông đồ của Đức Maria và người sáng lập của tại ít nhất là hai tôn giáo đơn đặt hàng: Hội của Đức Maria và các cô con gái của Wisdom.Claude được nhưng mười ba tuổi vào thời điểm đó nhưng đã được đưa ra bằng chứng của sự trưởng thành một nhiều hơn năm của mình. Nó đã không mất hai đồng dài để nhận ra rằng họ có nhiều điểm chung. Các tông đồ tương lai của Mary nhen nhóm trong trái tim của đồng trẻ của mình trong ngọn lửa của một cống hiến to lớn cho Đức Mẹ, đó là vẫn còn cháy mãi trong tâm hồn của mình và đó khiến ông sau đó để thêm Immaculate Conception mình vào tiêu đề của Giáo Hội của mình.
Một linh mục thứ hai người đã có một ảnh hưởng sâu sắc khi ông là Cha Dòng Tên Descartes, một cháu trai của nhà triết học nổi tiếng và toán học.Như Cha linh hướng Descartes đã nhiều để làm với sự hình thành ban đầu của Claude, và một lần nữa lại liên quan với ông tại trường Đại học Louis Đại đế, có số lượng người cha dòng Tên về khoa vượt quá một trăm. May mắn thay Claude không thuộc ảnh hưởng của Voltaire, người đã trở thành một sinh viên ở đó trong khi Claude đã được nghiên cứu thần học.
Ông tập hợp một số lựa chọn của sinh viên của ông với nhau, cố gắng để cung cấp cho họ huấn luyện tinh thần, thuyết giảng một khóa tu với nhóm nhỏ, và vào ngày Lễ Ngũ Tuần Chủ Nhật 27 Tháng Năm, 1703, trong khi chỉ có một mong mỏi cho nhà nước giáo hội, bắt đầu trong các chủng việnthành lập một cộng đồng của Đại Chủng viện thánh hiến cho Đức Thánh Linh theo lời gọi của Đức Trinh Nữ Maria thụ thai mà không có tội lỗi.
Claude có những khó khăn nghiêm trọng trong việc đưa ra quyết định cuối cùng của mình để trở thành một linh mục. Cảm thấy ghê tởm của lương tâm đã tăng lên đến bệnh dịch hạch ông và ông reproached mình cay đắng vì đã bắt đầu mà không được chuẩn bị đầy đủ cho một trách nhiệm lớn như vậy chủng viện của mình. Ông hoãn chịu chức linh mục cho ba năm. Cuối cùng, sự bình an lại cho tâm hồn bối rối của mình, ông quyết định tự giới thiệu mình như là một ứng cử viên cho phối, và trở thành một linh mục mãi mãi vào ngày 17 Tháng Mười Hai 1707. lao động gian khổ của ông đã cạn kiệt sức mạnh thể chất của mình và ông đã chết mà không nhìn thấy công việc của mình mang lại để hoàn thành. Cha Poullart des điểm chưa bao giờ được chính thức đề nghị phong thánh, nhưng có đáng kể bằng chứng cho thấy khoảng ngắn của ông về những năm bao phủ một bản ghi của nhân đức anh hùng. Bác sĩ Koren nói với chúng ta rằng nó chỉ là kể từ đầu thế kỷ này là người sáng lập ban đầu đang được theo luật sự chú ý mà ông rất đa dạng về xứng đáng.
Trước khi cuộc Cách Mạng Pháp
Các thành viên của Giáo Hội được thành lập bởi des Địa điểm đã được các linh mục thế tục sống chung, hứa vâng lời cấp trên của họ, và đầu hàng các thu nhập từ bộ của họ vào một quỹ chung. là một xã hội giảng dạy của Ngài, và hoạt động giáo dục của họ đã được đạo diễn cho phần lớn các linh mục hướng về đào tạo cho các cơ quan trong nước và nước ngoài. ”Cho đến ngày nay,” viết Bác sĩ Koren, “cả hai trường và các Hội vẫn tồn tại, nhưng nó đã được các Hội mà sau này phát triển, thông qua sự ảnh hưởng vivifying của Francis Hòa thượng Libermann, vào các tổ chức trên toàn thế giới hiện nay được gọi là Thánh cha Ghost hay, ngắn gọn hơn, Spiritans. ”
Người kế thừa trực tiếp của Cha des Địa điểm đã được Cha James Gamier. Mặc dù là một người đàn ông trẻ của năm 2003, ông sống nhưng sáu tháng sau cuộc bầu cử của mình.Providence sau đó đi lên với các linh mục sẽ cai trị của Giáo Hội và các công trình của mình cho năm mươi ba năm, 1710-1763. Cha Louis Bouic có tài năng cho chính phủ và chính quyền, và đã có thể với ân sủng của Thiên Chúa để củng cố xã hội trẻ vững và xây dựng phòng thủ chống lại một loạt các thế lực thù địch đó sẽ sớm bắt đầu đe dọa sự tồn tại của nó.
Mặc dù Kings và Hồng Y, Giám Mục và quý tộc làm quà thường xuyên cho các chủng viện, hầu hết các hỗ trợ của nó đến từ các khoản đóng góp tự nguyện của các tín hữu bình thường. Một tòa nhà mới được xây dựng chủng viện ở Paris và chuyên dụng trong năm 1734. Cho đến ngày nay nó vẫn còn phục vụ như là Motherhouse của Giáo Hội. Trong một cuộc đấu tranh với các Jansenists đe dọa chủng viện với một từ chối công nhận pháp lý, xã hội và cuối cùng đã chiến thắng, ngoài ra, chiếm quyền kiểm soát của các chủng viện của Verdun. Điều đáng lưu ý rằng không phải là một đơn của các linh mục được đào tạo tại chủng viện Đức Thánh Linh đã từng đi qua để các Jansenists. Lần đầu tiên trong lịch sử của Giáo Hội, vùng lãnh thổ đã chính thức được ủy thác chăm sóc tinh thần của nó, và, lần đầu tiên cũng được, các thành viên của Giáo Hội rời cho các cơ quan đại diện nước ngoài. Các nhiệm vụ uỷ thác của các tuyên truyền đã được các hòn đảo nhỏ của Thánh Pierre và Miquelon, ngoài khơi Newfoundland. Việc đàn áp các linh mục dòng Tên tại Pháp đã dẫn đến việc chuyển giao Guiana thuộc Pháp đến Spiritans.Một vài năm sau đó châu Phi Senegal đến dưới sự chăm sóc tinh thần của Giáo Hội. Chúng được nhưng khởi đầu khiêm tốn của nỗ lực truyền giáo vĩ đại mà đã trở thành công việc chính của các ông bố Đức Thánh Linh.
Sau khi cuộc Cách Mạng Pháp
Cách mạng Pháp đã dẫn nhanh chóng những tuyên bố phá tài sản của Giáo Hội. Sau đó là tắt hoàn toàn vào ngày 10 Tháng Tám năm 1792. Sự tồn tại của các Hội biến mất trước pháp luật, nhưng không phải là một Thánh duy nhất Đức Chúa Cha đã tuyên thệ ly giáo yêu cầu của các giáo sĩ được Chính phủ cách mạng. Trong giai đoạn 1703-1792 các Spiritans đã đào tạo và đào tạo khoảng 1.600 linh mục tại chủng viện Paris của họ một mình. ”Trong suốt Pháp và vượt xa biên giới của mình,” Bác sĩ viết Koren, “Spiritans được biết đến với sự tuân thủ không thể lay chuyển của họ tới Tòa Thánh, độ tinh khiết của họ về giáo lý, và cách cẩn thận, trong đó họ sinh được đào tạo trong những nhiệm vụ và phẩm chất của đời sống linh mục . ”
Cha James Bertout (1753-1832) được bầu làm Trợ lý Tổng vào năm 1787.Trong khả năng rằng ông đã chứng kiến sự khủng khiếp của cuộc cách mạng. Năm 1802, ông đã lợi dụng cơ hội cung cấp, thông qua hòa bình giữa Giáo Hội và Nhà nước, để tìm kiếm sự phục hồi của Giáo Hội. Các thành viên bị phân tán không mấy quan tâm trong dự án, nhưng Cha Bertout gần như tự tay thực hiện những gì bây giờ được gọi là phục hồi đầu tiên của Giáo Hội.chiến thắng của ông đã xa hoàn toàn. Napoleon mỉm cười theo yêu cầu của mình để phục hồi, nhưng nụ cười của Napoleon đã là một điều hay thay đổi. Sau thất bại của Napoleon năm 1815 một nghị định của hoàng gia của ngày 03 tháng 2 năm 1816, tuyên bố tái thành lập Giáo Hội và chính thức tính phí với việc cung cấp giáo sĩ cho tất cả các thuộc địa Pháp.
Phe đối lập tiếp tục harry Cha Bertout người 1805-1832 phục vụ như là thứ sáu Thượng tướng của Giáo Hội, nhưng năng lượng kiên trì, của mình, và kỹ năng ngoại giao của ông đã giành cho Rule sự chấp thuận của Tòa Thánh vào năm 1824. Không nản lòng, ông tiếp tục đấu tranh cho phục hồi hoàn toàn, một kết thúc, ông đã không thể đạt được. Điều này vô địch dũng cảm cứu được Hội từ những gì nếu không sẽ bị tuyệt chủng không thể tránh khỏi.Ông qua đời vào năm 1832. Trong 15 năm trước cái chết của mình, ông đã gửi 97 linh mục cho các thuộc địa, một thành tựu vô song của bất kỳ tổ chức nhiệm vụ khác của thời gian đó.
Vui vẻ hợp nhất
Không có một trong bốn người kế thừa trực tiếp của Cha Bertout trong mười sáu năm tiếp theo đã có thể khoan dung cho cuộc khủng hoảng trong công việc của Giáo Hội. Đó là vào thời điểm này, năm 1848, là Hòa thượng Francis Mary Libermann và Giáo Hội của Chúa Thánh Tâm Đức Mẹ đã đồng ý yêu cầu của Tòa Thánh là ông tiếp cây xã hội mới của mình trên các Hội cũ của Đức Thánh Linh. Bác sĩ Koren có này để nói về việc hợp nhất của hai xã hội tôn giáo: “Việc nhập học của Người Do Thái chuyển đổi và confreres của mình vào Giáo Hội đã được mệnh để lại sức sống mới của Hội cũ của Đức Thánh Linh, cải tạo cấu trúc cổ của nó, lũ nó với nhiệt tình một nó đã không có kinh nghiệm trong nhiều thập kỷ, và do đó biến nó thành một trong những lực lượng lớn nhất trong lịch sử toàn bộ các hoạt động truyền giáo. ”
Libermann, một chuyển đổi từ đạo Do Thái, đã nhận được rửa tội năm 1826, lúc 22 tuổi. Sau nhiều năm cầu nguyện và kiên nhẫn của ông hoàn thành nền tảng của Giáo Hội của trái tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria trong tháng Chín, 1841, cho công tác truyền giáo vĩ đại của những người da đen.Cha con trai của Libermann được, thực tế, các đầu tiên kể từ sự sụp đổ của Giáo Hội Phi để xâm nhập vào lục địa Châu. ”Các sự thịnh vượng lan rộng của Giáo Hội tại Châu Phi, ở ngày nay,” John T. Murphy viết trong bách khoa giáo (IX, 223). ”Là, nói rộng hơn, do sáng kiến và sự hy sinh tự của các thành viên đầu tiên của Tu Hội của trái tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria.”Khi nào, năm 1848, Libermann đã hoàn thành, theo yêu cầu của Tòa Thánh, các nhiệm vụ duy nhất và khó khăn của hai giáo đoàn thống nhất, ông đã chọn Thượng tướng của xã hội thống nhất, một bài viết ông chiếm đến cái chết của ông năm 1852. Các thánh chuyển đổi được tuyên bố Hòa Thượng vào năm 1876.
Một số hàng ngàn bức thư của ông đã được bảo quản và các, cùng với tất cả các bài viết khác của ông, đã được kiểm tra và chấp thuận của Tòa Thánh. Phương pháp của ông về hướng tâm linh, là, giống như cuộc sống của mình, một trộn lẫn sự ngọt ngào và từ chối tự, hòa bình thở và lòng can đảm, ở giữa tất cả các cách của các thử nghiệm. Đức Giáo Hoàng Piô XII gọi ông là “một tổng thể nổi bật của đời sống tinh thần.” Bác sĩ Koren nói rằng các giáo lý tâm linh và tông đồ của Libermann là động lực đó, từ giữa thế kỷ XIX, đã động Tu Hội của Đức Thánh Linh và ảnh hưởng đến thành tích của các thành viên.
SPIRITANS và lục địa DARK
Thượng tướng mới quay đầu tiên tổ chức trên một cơ sở vững chắc các dịch vụ tôn giáo của các thuộc địa cũ của Pháp. Ông bảo đảm việc thành lập bishoprics và cung cấp được thực hiện để cung cấp giáo sĩ thông qua các Đại Chủng viện của Đức Thánh Linh, được tiếp tục trên đường về mục đích ban đầu của nó, cụ thể là, để phục vụ như là một chủng viện thuộc địa cho các thuộc địa Pháp. Nhưng Cha Libermann đặt mình để tu luyện các lĩnh vực vẫn còn rộng lớn hơn của doanh nghiệp truyền giáo. Các thành viên đầu tiên của Tu Hội của ông về Khiết Tâm Đức Mẹ, như chúng ta đã thấy, đã làm dịch vụ tiểu địa chủ trong lĩnh vực truyền giáo châu Phi.Các miền rộng lớn của châu Phi, trong một ý nghĩa truyền giáo, đã được mở cửa cho anh ta và xã hội mới của mình, và bây giờ, khi Thượng tướng của xã hội thống nhất, ông tiếp tục nhìn nhận châu Phi như lĩnh vực chính của lao động của các môn đệ.
Đây là một vấn đề của niềm tự hào cho chúng tôi như người Mỹ rằng việc lấy-up của Cơ quan châu Phi do Libermann Hòa thượng là do sáng kiến của hai giám chức người Mỹ theo sự khuyến khích của Hội đồng đầu tiên của Baltimore. Năm 1833, Tiến sĩ Anh, giám mục của Charleston, đã rút ra sự chú ý của các tuyên truyền cho hoạt động của những người dị giáo trên bờ biển phía tây của châu Phi, và đã thúc giục việc gửi thừa sai đến những vùng vô học.kháng cáo này đã được gia hạn tại Hội đồng của Baltimore vào năm 1833. Các ông bố có đưa lắp ráp các Linh mục tiến sĩ Barron, người sau đó đã được làm cha phó Tổng Philadelphia, để thực hiện các công việc tại Cape Palmas. Đó là linh mục nhiệt thành đi trên mặt đất một cách cẩn thận cho một vài năm, và sau đó đã đi đến Rome để cung cấp cho một tài khoản của công việc và nhận được hướng dẫn thêm. Ông là giám mục thánh hiến và bổ nhiệm làm cha phó-Tông của hai Guineas. Khi chỉ có một linh mục và thầy giảng một lúc xử lý của mình, ông bây giờ đã đi đến nước Pháp trong tìm kiếm của các thừa sai. Ở đó, ông tìm thấy một máy phát điện của công việc truyền giáo ở người của Cha Libermann. Nhiệt thành tông đồ này cung cấp ông cùng một lúc với bảy linh mục và ba anh em phụ tá.
Các khí hậu gây chết người chơi tàn phá với các bệnh truyền giáo đầu tiên chuẩn bị. Tất cả nhưng một thiệt mạng trong quá trình một vài tháng và Tiến sĩ Barron trở lại trong tuyệt vọng đến Mỹ, nơi ông đã cống hiến mình cho công việc truyền giáo. Ở tuổi năm mươi hai ông đã chết vì những tác động của nhiệt huyết của mình trong dịch sốt vàng ở Savannah, vào năm 1853.
New truyền giáo tình nguyện đi ra ngoài và có những nơi của những người đã bỏ mạng, từng bước có bắt đầu được xây dựng ở châu Phi đen tối nhất trong hàng loạt các cộng đồng Kitô hữu mà đưa ra hình thức và chất cho những nỗ lực nặng nề của Libermann và những người theo ông. Nó đã chứng tỏ là một tác phẩm của sự hy sinh tiếp tục. Hơn 1.000 người truyền giáo đã hy sinh ở Châu Phi trong 110 năm qua. Họ và đồng hành của họ cũng phục vụ Thầy của họ, không phải với cuộc diễu hành và phô trương, nhưng trong sự theo đuổi của nhiệm vụ bình thường của họ, và, khi thời gian đến cho họ, họ nằm xuống trong phẩm cách đơn giản và chết giữa đàn chiên của mình. ”Các ông bố Đức Thánh Linh chưa bao giờ từ bỏ công việc tuyệt vời Libermann khánh thành,” viết Koren, “và họ không có khả năng làm như vậy cho đến khi Giáo Hội của châu Phi cũng được thành lập với một hệ thống bản địa và một giáo sĩ bản địa, có khả năng mang về mà không có trợ giúp của các linh mục nước ngoài và tôn giáo. ”
SPIRITANS ‘TĂNG TRƯỞNG
Dưới sự thúc đẩy của việc tổ chức lại năm 1848, Hội thành lập chính nó đang phát triển ở nhiều nước và khu vực địa lý. Cha Libermann kế ngay lập tức như Thượng tướng, Cha Schwindenhammer, lỏng lẻo tổ chức tất cả các cộng đồng và nhà ở vào một số tỉnh, Phó tỉnh.Sau đó, chỉ tiêu đã được thành lập để phân biệt các tỉnh từ huyện. Những nước cung cấp nhân viên của họ đã trở thành tỉnh; những người khác không thể được tỉnh và huyện sẽ được gọi.
Hiện nay có chín tỉnh: Pháp, Ireland, Đức, Bồ Đào Nha, Hoa Kỳ, Bỉ, Hà Lan, Anh, và (Pháp) Canada. Ba Lan và Thụy Sĩ là Phó tỉnh.Năm tỉnh khác đang chuẩn bị: Tây Ban Nha, tiếng Anh Canada, Nigeria, và Đông Nam Brazil với hai sư đoàn, Rio de Janeiro và Sao Paulo. Ba mươi huyện được lan truyền khắp nước Mỹ, châu Phi, Ấn Độ Dương, và châu Âu. Với các tỉnh và huyện công việc của Hội đạt nhiều các lãnh thổ truyền giáo của thế giới. công việc của nó trong vườn nho của Chúa là ngoại tiếp chỉ giới hạn của nhân viên của mình.
Nhiều tổ chức giáo dục và các công trình của tổ chức từ thiện hoạt động dưới sự che chở của Spiritans. Duquesne University, Pittsburgh, là trường lưu hành của nghiên cứu cao hơn ở Mỹ.Tuy nhiên, để người đọc câu chuyện của các tông đồ truyền giáo Spiritans ở châu Phi, bây giờ sứ đến bốn triệu người Công giáo người da đen, là thành quả nổi bật của Giáo Hội.
Ghi chú
1. The Spiritans, bởi Koren J. Henry, CSSp, STD, Duquesne Universtiy (Quảng cáo báo chí, Ltd, New York, 1958)..
6137 này mục kỹ thuật số được cung cấp lịch sự của CatholicCulture.org

Bài diễn văng của Đức Ông. Paul E. Campbell, M.A., Litt.D., Ed.D.

Đức Giáo Mục mới cho Dòng

Dom TeodoroCha Teodoro Tavares Mendes sinh ngày 7 tháng giêng năm 1964 tại São Miguel Arcanjo, một hòn đảo của Santiago, Cape Verde. Cha mẹ của Cha là Francisco Soares Tavares và Victoriana Mendes. Cả hai người đều đã qua đời.

Cha Teodora bắt đầu cuộc sống dâng hiến của mình nơi Tu Viện Giáo Phận tại Cape Verpde. Năm 1984, Cha gia nhập Dòng Chúa Thánh Thần ở Bồ Đào Nha. Ngài được khấn lần đầu trong tu viện ở Fraião, Braga vào năm 1986 và khấn trọn ở Tore d’Aguilha, Cascais năm 1989.

Cha học triết học và thần học ở trường đại học công giáo Braga và Lisbon của  Bồ Đào Nha. Ngài tốt nghiệp thần học năm 1992. Ngài được phong chức phó tế năm 1992 tại nhà thờ chánh tòa Viana do Castelo. Ngày 11 tháng 7 năm 1993, Ngài được Đức Giám Mục Paulino Évora thuộc dòng Chúa Thánh Thần phong chức linh mục tại giáo xứ Calheta,  Cape verde.

Sau đó cha được nhận bài sai làm việc với các Giám mục đoàn của Tefé từ năm 1995- 2010 trong sứ vụ truyền giáo tại rừng Amazon nước Brazil. Cha bắt đầu công việc truyền giáo tại Carauari và sau đó là Alvarães và Uarini. Năm 1998, cha nhận vai trò Giám đốc Đại chủng viện Giáo phận Tefé ( 1998-2010) và cha phó tại giáo xứ Thánh Teresa. Sau đó, cha làm cha sở giáo xứ này từ năm 2005-2007. Ngài cũng giữ vai trò cha phó tổng đại diện từ năm 2001 đến 2010.

Từ tháng giêng năm 2001 đến tháng 12 năm 2003, cha làm cha tuyên úy quân đội ở Tefé (lữ đoàn bộ binh 16 của Rừng hoang). Năm 2007-2010, Ngài làm cha xứ giáo xứ Chúa Giêsu thành phố Tefé. Ngài cũng phụ trách về ơn gọi giáo phận trong nhiều năm.

Cha làm bề trên tỉnh Dòng Chúa Thánh Thần ở Amazon từ 2003- 2010. Ngài cũng tham dự Tổng công nghị của Dòng tại Torred’ Aguilha, Lisbon năm 2004. Sau khi kết thúc nhiệm vụ Bề Trên Dòng ở Amazon vào cuối 2010, Ngài nghỉ ngơi ở Hoa Kỳ trong một năm. Nơi đây, Ngài làm việc trong giáo xứ Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria của Dòng Chúa Thánh Thần, thuộc giáo phận Rhode Island.

Ngày 8 tháng 5 năm 2011, Ngài được phong tấn làm Đức Giám Mục cho giáo phận Amazon nước Brasin.

arton64060