Tiểu sử về Cha Mary Paul Francis Libermann

mmexterieur

Cha Mary Paul Francis Libermann (tiếng Pháp: François-Marie-Paul Libermann; sinh ra trong một gia đình cha mẹ là Jacob Libermann. Cha sinh ngày 12 tháng 4 năm 1802, là một người Do Thái. Trong đêm vọng Giáng sinh năm 1826, Cha đã được rửa tội và trở thành tín hữu Công giáo. Cha đã sáng lập dòng Mẹ Maria Vô Nhiễm, một dòng mà sau này được sáp nhập vào Dòng Chúa Thánh Thần. Cha được gọi là “Người sáng lập thứ hai của Dòng Chúa Thánh Thần”. Cha Libermann được sinh ra trong một gia đình Do Thái Chính thống giáo tại một vùng quê nghèo của Saverne, Alsace, Pháp năm 1802. Là một người đàn ông trẻ, Cha Libermann chuẩn bị theo bước chân của cha mình, làm Tư Tế (Rabbi) ở Saverne. Nhưng sau đó, không biết vì lý do gì mà Cha đã đánh mất niềm tin vào đạo Do Thái sau khi nhập Trường Đạo Cao học (Yeshiva). Ở trường Đạo Cao học, Cha đã bắt đầu đọc văn học Pháp, đặc biệt là của triết gia Rousseau và kết quả là Cha đã trở thành người theo chủ nghĩa bất khả tri. Trong thời gian này, một chủng sinh đã đưa cho Cha một quyển sách Phúc âm từ bản dịch tiếng Do Thái. Là một người rất đạo đức, Libermann bị thu hút bởi những giai điệu tuyệt vời từ các bài giảng của Chúa Giêsu, mặc dù Cha không thể chấp nhận các yếu tố siêu nhiên trong sách Phúc âm. Tuy nhiên sau đó Cha đã bị một đòn đánh rất mạnh vào thuyết bất khả tri của mình khi hai người anh em của mình, người mà Cha rất quý mến, và một người bạn cũ chuyển sang Giáo Hội Công giáo. Vì thế, Cha đã quyết định đến Paris. Sau khi tới Paris, nơi bố mẹ đã sắp xếp để Cha theo đuổi việc nghiên cứu về Đạo Do Thái, Cha Libermann đã quyết định tự nhốt mình vài ngày tại một ký túc xá đại học với một bộ sách giáo lý cầu nguyện. Cuối cùng, Cha Jacob Libermann đã quyết định trở thành tín hữu Công giáo. Cha được rửa tội ngày 24 tháng 12 năm 1826, lấy tên François Marie Paul. Cha gia nhập một chủng viện tại Paris cùng năm này để nghiên cứu về chức vụ linh mục. Các thông tin về sự biến đổi của Cha đã bị bố mẹ Cha che giấu vì sợ hãi. Khi những thông tin về lễ chịu phép rửa tội của Cha diễn ra tại Tp. Saverne được tiết lộ, mọi người của vùng quê nghèo làng xưa đóng cửa chống lại Cha và bố mẹ Cha sau đó đã khước từ Cha và làm lễ thương tiếc Cha như thể Cha đã chết. Cha thuật lại rằng: “Với tôi, đó là một thời điểm vô cùng đau đớn. Sự cô đơn, u ám xâm chiếm cõi lòng tôi, ví như bầu trời bị mây đen che phủ. Những suy nghĩ về gia đình tôi, đất nước tôi, tất cả đã làm cho trái tim tôi rơi vào nỗi buồn sâu sắc nhất và đè nặng trái tim tôi. Sau đó, tôi đã nhớ đến Thiên Chúa, tôi đã quỳ xuống và cầu xin Ngài soi sáng cho tôi để tôi hiểu về tôn giáo cách đích thực. Tôi đã được biết đến Đức Kitô là niềm tin và là sự thật. Nhưng nếu nó là sai, xin Chúa lấy đi những ý tưởng ấy ngay lập tức, cho những người bên cạnh tôi hiểu tâm hồn sâu kín của tôi, nghe lời cầu nguyện của tôi, và lúc đó tôi đã được “giác ngộ”. Tôi đã được nhìn thấy sự thật. Đức tin thâm nhập tâm trí và vào trái tim của tôi. Bản thân tôi, tôi đọc được quyển sách Lhomond. Nó đã giúp cho tôi. Tôi có khả năng chấp nhận dễ dàng tất cả những gì Kinh Thánh kể lại về cuộc đời và cái chết của Chúa Giêsu Kitô, ngay cả mầu nhiệm Thánh Thể, mặc dù cách trình bày về bí tích này khá kém sự khôn ngoan theo nhận xét của cá nhân tôi. Không gì có thể lấy đi đức tin tôi đã có. Tôi tin rằng tất cả các khó khăn đó đã khiến tôi khát khao chìm sâu vào đời sống thiêng liêng hơn và đạt được hạnh phúc đích thực. Cùng lúc, tôi đã chuẩn bị cho việc lãnh nhận Bí Tích tuyệt diệu này. Tôi đã lãnh nhận được bí tích rửa tội vào dịp lễ Giáng sinh và sáng hôm sau đêm giao thừa, tôi đã được chịu phép Thêm Sức. ” Một thập giá khác nơi Cha Libermann là Cha bị mắc chứng bệnh động kinh, một căn bệnh đã làm Cha đau khổ gần mười năm. Chỉ khi các cơn co giật của căn bệnh đã ngừng hẳn vào năm 1841 thì Cha mới có thể trở thành một linh mục. Sau khi chịu chức, Cha Libermann thành lập một cộng đoàn nhỏ hướng tới các hoạt động truyền giáo cho những người nô lệ vừa được trả tự do tại Réunion, Haiti, và Mauritius. Khi nhóm này thu hút được nhiều thành viên, Tòa Thánh đã sáp nhập Dòng Trái Tim Đức Maria Vô Nhiễm với Dòng Chúa Thánh Thần, hay còn gọi là “Spiritans”. Với sự kiện này, Cha Libermann được gọi là “Đấng sáng lập thứ hai” của Dòng Chúa Thánh Thần.

Đấng Sáng Lập Dòng

roman column

Dấng Sáng Lập Dòng     ĐẤNG SÁNG LẬP FOUNDERS OF CONGREGATION OF THE HOLY SPIRIT       Cha Claude Poullart Des Places Sinh năm: 1679 Cha sáng lập Dòng Chúa Thánh Thần năm 1703 Mất năm: 1709 ******************************************************************* Cha Thứ Hai sáng lập Dòng Chúa Thánh Thần   …

Continue reading

Spiritans Là Ai?

pic john fogarty

Một thành viên của các giảng viên của trường đại học Duquesne, Linh mục cũng là giáo sư Henry J. Koren, CSSp, STD., đã viết câu chuyện các Cha Dòng Chúa Thánh Thần.  Ông cho phép các công việc của mình Các Spiritans, và giải thích rằng “Spiritans” là tương …

Continue reading

Đức Giáo Mục mới cho Dòng

Cha Teodoro

Cha Teodoro Tavares Mendes sinh ngày 7 tháng giêng năm 1964 tại São Miguel Arcanjo, một hòn đảo của Santiago, Cape Verde. Cha mẹ của Cha là Francisco Soares Tavares và Victoriana Mendes. Cả hai người đều đã qua đời. Cha Teodora bắt đầu cuộc sống dâng hiến của mình nơi Tu Viện Giáo Phận tại Cape Verpde. Năm 1984, Cha gia nhập Dòng Chúa Thánh Thần ở Bồ Đào Nha. Ngài được khấn lần đầu trong tu viện ở Fraião, Braga vào năm 1986 và khấn trọn ở Tore d’Aguilha, Cascais năm 1989. Cha học triết học và thần học ở trường đại học công giáo Braga và Lisbon của  Bồ Đào Nha. Ngài tốt nghiệp thần học năm 1992. Ngài được phong chức phó tế năm 1992 tại nhà thờ chánh tòa Viana do Castelo. Ngày 11 tháng 7 năm 1993, Ngài được Đức Giám Mục Paulino Évora thuộc dòng Chúa Thánh Thần phong chức linh mục tại giáo xứ Calheta,  Cape verde. Sau đó cha được nhận bài sai làm việc với các Giám mục đoàn của Tefé từ năm 1995- 2010 trong sứ vụ truyền giáo tại rừng Amazon nước Brazil. Cha bắt đầu công việc truyền giáo tại Carauari và sau đó là Alvarães và Uarini. Năm 1998, cha nhận vai trò Giám đốc Đại chủng viện Giáo phận Tefé ( 1998-2010) và cha phó tại giáo xứ Thánh Teresa. Sau đó, cha làm cha sở giáo xứ này từ năm 2005-2007. Ngài cũng giữ vai trò cha phó tổng đại diện từ năm 2001 đến 2010. Từ tháng giêng năm 2001 đến tháng 12 năm 2003, cha làm cha tuyên úy quân đội ở Tefé (lữ đoàn bộ binh 16 của Rừng hoang). Năm 2007-2010, Ngài làm cha xứ giáo xứ Chúa Giêsu thành phố Tefé. Ngài cũng phụ trách về ơn gọi giáo phận trong nhiều năm. Cha làm bề trên tỉnh Dòng Chúa Thánh Thần ở Amazon từ 2003- 2010. Ngài cũng tham dự Tổng công nghị của Dòng tại Torred’ Aguilha, Lisbon năm 2004. Sau khi kết thúc nhiệm vụ Bề Trên Dòng ở Amazon vào cuối 2010, Ngài nghỉ ngơi ở Hoa Kỳ trong một năm. Nơi đây, Ngài làm việc trong giáo xứ Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria của Dòng Chúa Thánh Thần, thuộc giáo phận Rhode Island. Ngày 8 tháng 5 năm 2011, Ngài được phong tấn làm Đức Giám Mục cho giáo phận Amazon nước Brasin.